BÀI KÝ TRÊN CHUÔNG CHÙA PHÚC SƠN
Người dịch: Nhữ Đình Văn
Ảnh tư liệu chữ Hán
Chế bản chữ Hán
鐘
記鐘云:
歲在丙寅年七月初二日河華府石河縣爪牙总[1]
土山村福山寺住持僧興功字弱沿雲集
本村上下等及十方善男信女松柳[2]諸家
四衆人等鎔鑄洪鐘一果功德圓成 左...以[3]
為楷式將來
又本社彥市村信主楊福通姜床氏 倣爲
求嗣果願得爰供小鐘一果重錢陸貫
Phiên âm:
CHUNG
Ký chung vân:
Tuế
tại Bính Dần[4]
niên, thất nguyệt sơ nhị nhật, Hà Hoa phủ,
Thạch Hà huyện, Trảo Nha tổng, Thổ Sơn thôn, Phúc Sơn tự, trụ trì tăng Hưng
Công, tự Nhược Duyên, vân tập bản thôn thượng hạ đẳng, cập thập phương thiện
nam tín nữ, tùng liễu[5] chư gia, tứ chúng nhân đẳng,
dung chú hồng chung nhất quả, công đức viên thành. Tả ... dĩ vi giai thức tương lai.
Hựu
bản xã Ngạn Thị thôn, tín chủ Dương Phúc Thông, Khương Sàng thị, phỏng vi cầu tự, quả nguyện đắc, viên cung tiểu chung nhất
quả, trọng tiền lục quán.
Dịch
nghĩa:
CHUÔNG
Bài ký trên
chuông rằng:
Vào
năm Bính Dần, ngày mồng 2 tháng 7, tại chùa Phúc Sơn thuộc thôn Thổ Sơn, tổng Trảo Nha, huyện
Thạch Hà, phủ Hà Hoa. Vị
trụ trì là nhà sư Hưng Công, tự
Nhược Duyên đã
tập hợp toàn thể (mọi người)
trên dưới trong thôn nhà,
cùng các thiện nam,
tín nữ mười phương, các gia
đình, đông đủ các thành phần dân chúng, cùng nhau
đúc một quả chuông lớn. Công
đức viên mãn, nay ghi ở bên trái
để làm khuôn mẫu cho mai sau.
Lại có tín chủ ở thôn Ngạn Thị trong xã này, là ông Dương Phúc Thông và bà Khương Sàng, noi theo việc thiện, cầu con nối dõi. Được toại nguyện, bèn dâng một quả chuông nhỏ, trị giá sáu quan tiền.
Vài lời người dịch:
Giải thích bản dịch:
总: tổng: chữ này không rõ, nhiều nét tạp. Tại huyện
xưa có tổng Trảo Nha, theo tìm hiểu lại có cả xã Trảo Nha. Có thể đó là cách viết
gộp cả tổng và xã, khi tên này dùng chung cho cả hai cấp hành chính. Tạm suy luận
là chữ 总 tổng, bởi Trảo
Nha là tên tổng của địa phương này xưa kia.
松柳諸家 : tùng liễu
chư gia, 松 tùng: cây tùng;
柳 liễu: cây liễu. Nghĩa đen là “Các nhà
tùng liễu”, có nhiều cách hiểu: (i) Dùng hình ảnh “tùng”, “liễu” chỉ chung các gia
đình, mọi tầng lớp, mọi thành phần giầu sang, nghèo hèn... cách hiểu này phù hợp
với văn cảnh cả đoạn, liệt kê chung chung, không nêu tên cụ thể một ai; (ii) Chỉ
các gia đình xóm Tùng Liễu, hay các gia đình họ Tùng, họ Liễu. Người dịch tạm dịch
theo cách hiểu (i).
左...以: Tả ... dĩ: chữ giữa này nhiều nét tạp, không thể
luận, đọc được. Tuy nhiên không ảnh hưởng đến nội dung bản dịch.
Bính Dần niên: là các năm 1926,
1866, 1806, 1746...
Với vài chữ chưa rõ, cần chụp lại, hoặc đọc trực tiếp tại chuông. Tuy nhiên, các chữ này không ảnh hưởng đến nội dung bài ký trên chuông
Vũng Tầu, 丙午年仲夏
Nhữ Đình Văn
[1] 总: tổng: chữ này không rõ, nhiều nét tạp. Tại huyện
xưa có xã Trảo Nha, theo tìm hiểu lại có cả xã Trảo Nha. Có thể đó là cách viết
gộp cả tổng và xã, khi tên này dùng chung cho cả hai cấp hành chính. Tạm suy luận
là chữ 总 tổng, bởi Trảo
Nha là tên tổng của địa phương này xưa kia.
[2] 松柳諸家 : tùng liễu chư gia, 松 tùng: cây tùng;
柳 liễu: cây liễu. Nghĩa đen là “Các nhà tùng
liễu”, có nhiều cách hiểu: (i) Dùng hình ảnh “tùng”, “liễu” chỉ chung các gia đình,
mọi tầng lớp, mọi thành phần giầu sang, nghèo hèn... cách hiểu này phù hợp với văn
cảnh cả đoạn, liệt kê chung chung, không nêu tên cụ thể một ai; (ii) Chỉ các gia
đình xóm Tùng Liễu, hay các gia đình họ Tùng, họ Liễu. Người dịch tạm dịch theo
cách hiểu (i).
[3] 左...以: Tả ... dĩ: chữ giữa này nhiều nét tạp, không thể
luận, đọc được. Tuy nhiên không ảnh hưởng đến nội dung bản dịch.
[4] Bính Dần niên: là các năm 1926, 1866, 1806, 1746...
[5] Tùng liễu: xem chú thích 1.

