Bia
Hậu Phật chùa Thánh Thọ 寺壽 聖 (nay là chùa Khánh Thọ 寺壽 慶)
Bia số 2: Hậu Phật bi kí/ Lưu truyền vạn cổ 后佛碑記/流傳萬古 (năm 1771, Ghi chép bà Lưỡng quốc Quế hộ Thượng Thượng quận Phu nhân Nhữ Thị Nhuận công đức xây chùa, bầu Hậu Phật)
Ảnh bia 后佛碑記/流傳萬古, chùa Khánh Thọ, chụp Tết
Giáp Thìn (2024)
Người
dịch: Thạc sĩ Hán Nôm Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên)
Lời biên
tập:
Đây là bia rất quý tại chùa Khánh
Thọ làng Hoạch Trạch. Thác bản do Viện Viễn đông Bác cổ sưu
tầm và dập từ năm 1944, hiện có lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Bia đã được dịch đưa vào sách Di sản Hán Nôm Hải Dương
(TS Tăng Bá Hoành). Dịp Tết Giáp
Thìn (2024), Trên Website Cổng thông tin họ Nhữ Việt Nam (ông Nhữ
Đình Văn) cũng sưu tầm, chụp ảnh hiện vật, dịch và đăng mặt chính bia, đoạn ghi chép về bà Nhữ Thị Nhuận công đức xây dựng
lại chùa Thánh Thọ làng Hoạch Trạch.
Năm 2025, Thạc sĩ Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên) đã sưu tầm, dịch hoàn chỉnh ba mặt bia trong bản Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của mình. Được sự đồng ý của người dịch, chúng tôi đăng đầy đủ bản dịch bia Hậu Phật quý giá này. Xin cảm ơn sư Thích Nữ Pháp Nguyên.
VĂN BIA SỐ 7: HẬU PHẬT BI KÍ/LƯU TRUYỀN VẠN CÔ (kí hiệu: 19789/19790/19791)
1. Tên bia: Hậu Phật bi kí/ Lưu truyền vạn cổ 后佛碑記/流傳萬古
2. Kí hiệu: 19789/19790/19791
3. Địa điểm: Thác bản bia xã Hoạch Trạch huyện Đường An phủ Thượng Hồng 上洪府唐安縣穫澤社, sưu tầm ở xã Hoach Trach, tổng Bình An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
4. Đặc điểm: Thác bản 3 mặt, khổ 45 x 72cm, gồm 39 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 750 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
5. Niên đại: Cảnh Hưng thứ 32 (1771)
6. Người soạn: không ghi
7. Tóm lược nội dung: Bản xã có một ngôi chùa cổ, trải thời gian đã bị hư hỏng do được lợp bằng ngói. Nay Quế hộ Quận phu nhân mở rộng lòng nhân từ, không tiếc của riêng trùng tu thắng quả. Cảm nhớ công ơn, dân đồng lòng kính bầu cha mẹ của Quận phu nhân làm Hậu phật. Quận phu nhân cũng được tôn bầu làm Hậu. Có kê lệ giỗ, văn tế Hậu và số ruộng mà Quận phu nhân giao phó cho 4 giáp canh tác kèm theo.
8.
Nguyên
văn chữ Hán, Nôm:
<19789> 后佛碑記
上洪府唐安縣穫澤社朝官,官員,色目,社村長,同社等,為敬保后佛位事。
由本社有古寺一座,已經宂弊猶然草構。玆桂户郡夫人追思籍,廣發慈心,不靳家貲,崇修勝果.再厰香城之舊址;永為枌里之善緣。依皈久惬於鄉情;报稱敢忘於厚意。因此合辭,敬保郡夫人官。
先考昭文舘儒生封贈顯恭大夫詹事院詹事,汝貴公字慧通号勇篤,六月十七日忌。
先妣封贈謹人黎貴氏号慈仁,十一月二十二日忌。
先夫愈知待內書寫吏番通政使司通政使綿澤子武貴公字純和号忠實,五月二十六日忌。
見今郡夫人官祇[膺]天壽,遞年因上元節備礼祝貺至百歲後一体保為后佛。其各條例具列于后。兹保本社人桂户郡夫人汝貴氏号妙惠,七月三十日忌。
黎朝景興叁拾貳年月初日。
<19790>
一敬保后佛位忌日,每礼使錢五貫,留付當該甲整辨椀菓,香燈內分為叁礼,預先薦供三宝有疏文懺祈后佛位,超度,二礼祇供後佛位,官員鄉老以下齐整衣冒並就行礼如儀。遞年上元,祈壽,中元,下元,重五,重十,正且等礼,每礼准使錢壹貫,係有薦供三宝並有設供后佛位,官員,鄉老行礼亦如之。以上各礼行礼訖,量許寺僧一分餘照見面受分其敬俵均分等例並酌。
祭文:維
皇号某年月日,府縣社朝貴官具官爵,官員鄉老,色目社村長同社等謹
以齋需礼金銀等物敢昭告于。
后佛云云座前曰:淨境久超,福緣如在。伊蒲薄供,聊寓鄉情。敬以后
佛云云配尚享。
<19791> 流傳萬古
本社人桂户郡夫人官,再留付四甲肥田在穫澤社地分拾畝并池一口。係遞年收取粟子照依詞内忌臘各節所,有各處所田畝高尺寸計開于后。
計:
一在東行処,一所壹畝;又在東行処,一所壹畝;又在東行処,一所五高;
又伊処,一所五高.
又在東行処,一所壹畝壹高。
一在媽截処,一所壹畝。
一在同慈处,二所相連五高:又在同慈处,二所相連五高。
一在坡滝処,五所相連壹畝陸高。
又在媽截処,一所肆高;又在媽截処,二所相連壹畝五高。
一在坫具処,一所肆高。
又池一口貳高坐在内寺边。
9.
Dịch Nghĩa:
<19789>
Bia ghi chép về Hậu Phật
Các
vị quan trong triều, quan viên, sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng trong xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng
vì kính cẩn làm việc bầu đặt ngôi hậu Phật. Nguyên do xã ta có ngôi chùa cổ đã
trải qua thời gian hư hỏng bị cỏ dại bao trùm. Nay Quế hộ phu nhân[1] nhớ đến quê hương đã phát
lòng từ rộng lớn, không tiếc của riêng trùng tu phạm vũ, mở rộng cảnh chùa trên
nền chùa cũ, mãi là thiện duyên của xóm làng. Lòng hướng Phật thỏa ý ở tình
quê, báo ơn đức chẳng quên ở hậu ý.
Nhờ
dốc lòng thỏa nguyện nghĩ tới quê nhà, không dám quên việc báo đáp. Cho nên đồng dân nhất trí kính bầu Quận
phu nhân.
Tiên
khảo Quận phu nhân là Chiêu Văn Quán, nho sinh phong tặng Hiển cung Đại phu,
Thiêm sự Nhữ quý công, tự Tuệ Thông, hiệu Dũng Đốc, giỗ ngày 17 tháng 6.
Tiên
tỉ được phong tặng Cẩn nhân Lê quý thị hiệu Từ Nhân, kị ngày 22 tháng 11.
Tiên
phu Thiêm Tri Thị nội Thư Tả Lại Phiên Thống Chánh ti chánh sứ Miên Trạch Tử Vũ quý công tự Thuần Hòa hiệu
Trung Bảo, kị ngày 26 tháng 5.
Nay
mừng Quận phu nhân được hưởng tuổi trời, hàng năm lễ Thượng Nguyên bản xã phải
sửa lễ mừng thọ. Đến trăm tuổi thôn tiếp tục họp tất cả sẽ bầu người làm hậu Phật
một thể. Các điều liệt kê đầy đủ phía sau. Nay bầu người bản xã là Quế hộ Quận phu
nhân - Nhữ quý thị hiệu Diệu Huệ, giỗ ngày 13 tháng 7.
Tháng
2 Lê Triều Cảnh Hưng năm thứ 32 (1771).
<19790>
Kính bầu hậu Phật, ngày giỗ mỗi lễ dùng 5 quan tiền sử giao cho giáp đương cai sửa soạn oản quả, hương đèn chia làm ba lễ, trước tiến cúng Tam bảo có sớ văn cầu siêu cho vị hậu Phật, còn hai lễ cúng cho các vị hậu Phật. Từ quan viên, hương lão trở xuống chỉnh sửa mũ áo hành lễ như nghi. Hằng năm các lễ tiết như: lễ khánh thọ vào tiết thượng nguyên, lễ trung nguyên, lễ hạ nguyên, lễ trùng ngũ, lễ trùng thập, lễ chính đán, mỗi lễ dùng 1 quan tiền sử để cúng tiến Tam bảo và cúng vị hậu Phật, các quan viên, hương lão tiến hành lễ như trên. Lễ xong biếu tăng chùa một phần, còn lại chia đều cho các viên quan có mặt ở đấy ăn uống.
Văn
tế: Duy
Hoàng
hiệu ... ngày tháng năm... xã huyện phủ... triều quý quan (ghi rõ quan tước)
hương lão, sắc mục, xã thôn trưởng cùng toàn xã. Kính cần mang các lễ vật như
vàng bạc, đồ cúng xin kính cáo trước hậu Phật rẵng:
Tịnh
cảnh cụ sớm siêu thăng,
Phúc
duyên của cụ rõ ràng còn đây.
Kim
ngân, hoa quả, cỗ chay,
Xóm
làng kính lễ tỏ bày tình quê.
Kính
xin các vị hậu Phật... cùng phối hưởng.
<19791>
Lưu truyền muôn đời
Người
xã ta Quế Hộ Quận phu nhân lại giao cho bốn giáp ruộng tốt ở tại địa phận xã Hoạch
Trạch gồm 10 mẫu và 1 cái ao. Hằng năm thu lấy thóc lúa xét theo đơn bầu hậu để
làm giỗ chạp các tiết. Các xứ sở và diện tích cụ thể từng thửa liệt kê ở phía sau.
Kê
khai:
-
Một
thửa tại xứ Đông Hành 1 mẫu; lại tại xứ Đông Hành 1 thửa 5 sào; lại tại xứ Đông
Hành 1 thửa 5 sào; lại tại xứ ấy 1 thửa 1 mẫu 1 sào.
-
Lại
tại xứ Đông Hành 1 thửa 1 mẫu 1 sào.
-
Tại
xứ Mả Tiệt 1 thửa 1 mẫu 1 sào.
-
Tại
xứ Đồng Từ hai thửa liền nhau 5 sào; lại tại xứ Đồng Từ 2 thửa liền nhau 5 sào.
-
Tại
xứ Bờ Sông 5 thửa liền nhau 1
mẫu 6 sào.
-
Lại
tại xứ Mả Tiệt một thửa 4 sào; lại tại xứ Mả Tiệt hai thửa liền nhau một mẫu
năm sào.
-
Tại
xứ Điếm Bối 1 thửa 4 sào.
-
Lại
1 cái ao rộng 2 sào ở trong chùa về bên phải.
Ảnh thác bản bia:
[1] "Quế hộ phu nhân: tên đầy đủ là Nhữ Thị Nhuận (hiệu Diệu Huệ, Quế Hộ Thượng Quận Phu nhân) - người làng Hoạch Trạch (xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), con gái Thiềm sự Nhữ Tiến Duyệt, cháu Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng, vợ cử nhân Vũ Phương Đầu làng Mộ Trạch. Bà nổi tiếng giỏi y thuật, đặc biệt dùng quế chữa bệnh. Khi được vua Lê Hiển Tông sai đi tìm thuốc cho Hoàng Thái hậu, bà đã bán vàng cứu dân đói rồi vẫn hoàn thành sứ mệnh. Nhờ tài đức, bà được phong "Quế Hộ Thượng Quận Phu nhân." Tương truyền, Hoàng thái hậu nhà Thanh mắc bệnh, được bà gửi thuốc chữa khỏi. Vua Cần Long ban thường trọng hậu, phong bà là "Lưỡng quốc Quế Hộ Thượng Thượng Quận Phu nhân."
