Bia Hậu Phật chùa Thánh Thọ 寺壽 聖 (nay là chùa Khánh Thọ 寺壽 慶)
Bia số 3:
Hậu Phật bi kí 后佛碑記 (năm 1802)
(Khắc ghi: ông Nguyễn Ngọc Uyên và vợ là bà Lê Thị Châu, Nhữ Đình Nghìn, Phạm Hữu Nghĩa,... xuất số tiền do tổ bên ngoại để lại gồm 300 quan và 3 mẫu ruộng; bà Nguyễn Thị Khán xuất số tiền 100 quan và 1 mẫu ruộng đề trùng tu chùa Thánh Thọ, làng Hoạch Trạch và việc bầu Hậu Phật)
Người dịch: Thạc sĩ Hán Nôm Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên)
Lời biên
tập:
Năm 2025, tôi được
Thạc
sĩ Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên) tặng cho cuốn tài liệu khảo cứu, nghiên cứu khoa
học về hệ thống các văn bia Hậu Phật huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ), đây
cũng là luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của sư. Công trình nghiên cứu rất có giá trị, bổ ích. Chùa Khánh
Thọ làng Hoạch Trạch có 8 văn bia được khảo cứu, dịch. Được sự đồng ý của sư Thích Nữ Pháp Nguyên, tôi sẽ lần lượt đăng trên Cổng thông tin điện tử HN VN và các trang
mạng xã hội. Xin cảm ơn sư Thích Nữ Pháp Nguyên.
VĂN BIA: HẬU PHẬT BI KÍ
(kí hiệu 19802)
1. Tên
bia:
Hậu Phật bi kí/后侠碑記
2. Kí
hiệu: 19802
3. Địa
điểm: Thác bản bia xã Hoạch Trạch huyện Đường An phủ Bình
Giang 平江府唐安縣穫澤社,sưu tầm ở chùa Hoạch Trạch tổng Bình An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải
Dương.
4. Đặc
điểm: Thác bản 1 mặt, khổ 37 x 61cm, gồm 17 dòng chữ Hán và
Nôm, toàn văn ước khoảng 340 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
5. Niên
đại:
Gia Long thứ 1 (1802)
6. Người
soạn: không ghi
7. Tóm
lược nội dung: Bản thôn trùng tu chùa chi phí tốn kém,
người bản xã là ông Nguyễn Ngọc Uyên và vợ là bà Lê Thị Châu, cùng toàn thể mọi
người trong họ xuất số tiền do tổ bên ngoại để lại gồm 300 quan và 3 mẫu ruộng
đề trợ giúp cho việc tu sửa được hoàn thành. Quan viên, dân xã hiệp bầu cụ ngoại
tổ khảo, tổ tỉ và thứ tỉ làm Hậu phật. Hằng năm cúng giỗ theo nghi tiết. Ghi ngày giỗ cùng số ruộng gửi giỗ trên
bia.
8. Nguyên
văn chữ Hán, Nôm:
<19802> 后佛碑記
上洪府唐安縣穫澤社朝官,官員,鄉老,色目,社村長全社等,為置保事。
由本社重修本寺,需費頗廣。兹本社阮玉淵妻黎氏珠,汝廷,范有義,全族等,共出外祖,遺下私貲,古錢三百貫,田叁畝,以資福果。本社協保阮玉淵等外祖考祖,妣祖,次妣,叁位為後佛。遞年某位忌日,本社整辦齋儀,椀菓,各壹百均二盤,一供三寶,一禮忌后。本社各整衣帽,行禮如儀,投報之情,傳于永久。茲保詞。置保后佛三位字號忌日詳編于後。
一前封贈:茂林郎,詹事,院詹事,澤忠子,黎貴公字福寧號雅平,十一月十二日忌。
一前封贈:黎公正室武貴氏號妙清,四月初七日忌。
一前封贈:黎公次室武貴氏號妙鏡,十一月初十三日忌。
一田在關廚坡滝處,二所相連一畝;一在到老處,一所八高;
一田在梂板處,二所相連一畝一秧;田在媽牟處,一所二高.
又本社婦人阮氏看,出助費錢一百買,田一畝,本社應保爲后佛,共忌日碳禮與列位同。一田在瑪截處,一所九高;一田在垃連處,一所一高。
阮費氏號妙心,四月初九日忌。
嘉隆元年十一月二十穀日,立碑。
叶保詞本社共記
9. Dịch nghĩa:
<19802> Ghi chép về
bia hậu Phật
Các
quan trong triều, quan viên, hương lão, sắc mục, thôn trưởng cùng các xã của xã
Hoạch Trạch, tổng Bình An, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, làm
việc bầu đặt. Nguyên do bản xã tu sửa chùa, nhu phí tốn kém. Nay trong xã ta có
ông Nguyễn Ngọc Uyên vợ là Lê Thị Châu, Nhữ Đình Nghìn, Phạm Hữu Nghĩa, cùng
toàn thể mọi người trong họ xuất số tiền do tổ bên ngoại để lại gồm 300
quan tiền cổ, 3 mẫu ruộng để trợ giúp cho việc tu sửa được hoàn thành.
Bản
xã hiệp bầu ông Nguyễn Ngọc Uyên và cụ ngoại tổ khảo, tổ tỷ, thứ tỷ, ba vị làm
hậu Phật. Hằng năm vào ngày giỗ của các vị ấy, bản xã sửa soạn lễ chay, oản quả,
các thứ chia đều làm hai mâm, một cúng Tam bảo, một lễ giỗ hậu Phật. Bản xã đều
chỉnh sửa áo mũ, hành lễ như nghi, để tỏ lòng báo đáp, lưu truyền mãi mãi.
Nay
lập đơn bầu. Đặt bầu ba vị hậu Phật có tên hiệu, ngày giỗ ghi chép rõ ràng ở
phía sau :
Trước
được phong tặng: Mậu lâm lang, Thiêm sự, viện Thiêm sự Trạch Trung từ, Lê quý công tự Phúc Ninh hiệu
Nhã Bình, giỗ ngày 12 tháng 11.
Trước
phong tặng theo chức của chồng họ Lê, chính thất Vũ quý thị hiệu Diệu Thanh, giỗ ngày 7 tháng 4.
Trước
phong tặng theo chức của chồng họ Lê, thứ thất Vũ quý thị hiệu Diệu Kính, giỗ ngày 13 tháng 11.
Một
ruộng tại xứ Cửa Chùa Bờ Sông, hai thửa liền nhau ruộng mạ rộng một
mẫu; một tại Đáo Lão xứ,
một thửa rộng tám sào.
Một
ruộng tại xứ Cầu Bản, hai thửa liền nhau một mẫu như hình cái tay áo; ruộng tại Má Mầu xứ, một thửa hai sào.
Trong
bản xã lại có bà Nguyễn Thị Khán, xuất tiền trợ giúp là một trăm quan và
một mẫu ruộng. Bản xã nhận lấy bầu làm hậu Phật, cùng vào ngày giỗ lễ nghi cho
các vị như nhau.
Một
ruộng tại xứ Mả Triệt, một thửa chín sào.
Một
ruộng tại Lớp Liên xứ, một thuở một sào.
Nguyễn
quý thị hiệu Diệu Tâm, giỗ ngày 9 tháng 4.
Ngày
12 tháng 11 năm Gia Long thứ nhất, lập bia.
Lập
đơn bầu bản xã cùng kí.
