Tư liệu Hán Nôm: Chép trong các cuốn “Hoạch Trạch Nhữ
tộc phả”, do Tiến sĩ Nhữ Đình Toản khởi soạn mùa đông năm Cảnh Hưng thứ 6
(1745), các đời sau chép tiếp. Sách lưu truyền tại họ Nhữ làng Hoạch Trạch, Hải
Dương và nhánh họ Nhữ tại Hà Nội.
Dịch và biên khảo: Nhữ Đình Văn
1.
Ảnh
tư liệu:
Ảnh cuốn Hoạch Trạch
Nhữ tộc phả - bản do nhánh họ Nhữ sống ở Hà Nội lưu truyền, các trang
132,133,134, đoạn chép lại sắc tấn phong mỹ tự cho Tiến sĩ Nhữ Đình Toản
1.
Chế
bản chữ Hán:
又晉封美字一道
皇上制曰
衮裳登寶祚,祇承社稷之麻靈;
彝鼎肇尊禮,恪奠山川之嘉祀。
閟宮久穆,清廟有嚴,惟元臣。
賜丙辰科進士,特進金紫榮祿大夫,入侍經筵,參從兼刑禮二部事,掌府事,同預政務,改除都校點司右校點,輔國上將軍,中軍都督府左都督,太傅,忠郡公,前追封才智英特翼聖丕績太宰忠國公。
惟公:
海岳英標,斗牛正氣;三世邁忠,源孝委爽;家華國才,猷兩途兼,武略文韜,浴日補天。手段帳辰,懋一人之啟沃;衝端百辟之儀型。東南鑰鑕,鑄藩翰;廓山河草昧之經綸。坤軸靜輿圖於鼎沸,出入股肱喉舌;釐朝省紀網之偷弛,泰階熈景象於昇平。豊功煥耀旂常,異寵霑覃匱鬯;肆冲子構堂隆。
列祖頒階詔爵,視九儀而式敍群工;睠元臣喬泰,重清朝誄謚疇勳, 稱三禮而超躋正秩,可再晉封美字:贊謀衛社鎮疆太宰忠國公。
尚其默孚玄爽,光受鴻敏;鐵券丹書,帶礪長申;
苗裔雲臺太室,蒸嘗永享焄高。
欽哉!
Hoàng thượng chế viết:
Cổn thường đăng bảo tộ, kỳ thừa xã tắc chi ma linh;
Di đỉnh triệu tôn lễ, khắc điện sơn xuyên chi gia tự.
Bí cung cửu mục, thanh miếu hữu nghiêm, duy nguyên thần.
Tứ Bính Thìn khoa Tiến sĩ, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị Kinh diên, Tham tụng, kiêm Hình Lễ nhị bộ sự, Chưởng phủ sự, Đồng dự chính vụ, cải trừ Đô hiệu điểm ty Hữu hiệu điểm, Phụ quốc thượng tướng quân, Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái phó, Trung quận công, tiền truy phong Tài trí, Anh đặc, Dực Thánh Phi Tích, Thái tể Trung Quốc công.
Duy công:
Hải nhạc anh tiêu; Đẩu Ngưu chính khí;
Tam thế mại trung; Nguyên hiếu uỷ sảng;
Gia hoa quốc tài; Du lưỡng đồ kiêm;
Vũ lược văn thao; Dục nhật bổ thiên.
Thủ đoạn trướng thần, mậu nhất nhân chi khải ốc;
Xung đoan bách tích chi nghi hình.
Đông Nam thược chất, chú phiên hãn;
Khuếch sơn hà thảo muội chi kinh luân.
Khôn trục tĩnh dư đồ ư đỉnh phí,
Xuất nhập cổn canh hầu thiệt;
Liều triều tỉnh kỷ võng chi thâu trì,
Thái giai hi cảnh tượng ư thăng bình.
Phong công hoán diệu kỳ thường,
Dị sủng triêm đàm quỹ sưởng;
Tứ xung tử cấu đường long.
Liệt tổ ban giai chiếu tước,
Thị cửu nghi nhi thức tự quần công;
Quyến nguyên thần Kiều Thái,
Trọng thanh triều lụy thụy trù huân.
Xưng tam lễ nhi siêu tễ chính trật. Khả tái tấn phong mỹ tự: Tán mưu vệ xã trấn cương, Thái tể, Trung Quốc công.
Thượng kỳ mặc phu huyền sảng, quang thụ hồng mẫn;
Thiết khoán đan thư, đái lệ trường thân;
Miêu duệ Vân Đài Thái Thất,
Chưng thường vĩnh hưởng huân cao.
Khâm tai!
(Trẫm) khoác long bào lên ngôi báu, kính cẩn tiếp nhận linh mệnh của xã tắc;
Lấy lễ khí (Di, Đỉnh) để khởi dựng, tôn sùng lễ nghi, kính cẩn cử hành các đại lễ tế núi sông.
Bí cung lâu bền tĩnh mịch, thanh miếu uy nghiêm đều nhờ vào các bậc nguyên lão đại thần.
Ban cho: Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu, Nhập thị Kính Diện, Tham tụng, kiêm nhiệm công việc ở cả bộ hai bộ Hình và Lễ, Chưởng phủ sự, Đồng dự chính vụ, cải (sang ban võ) bổ làm Đô hiệu điểm ty Hữu hiệu điểm, Phụ quốc Thượng tướng quân, Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thái phó, Trung quận công, trước đã được truy phong: Tái Trí, Anh Đặc, Dực Thánh Phi Tích, Thái tể, Trung Quốc công.
Ông là người:
Bậc anh kiệt tiêu biểu như biển rộng, núi cao; Khí tiết chính trực sáng ngời như sao Đẩu, sao Ngưu.
Ba đời nối tiếp lòng trung nghĩa; Hiếu đạo sâu bền, sáng tỏ chất thanh cao.
Làm rạng danh gia tộc, là nhân tài của quốc gia, mưu lược đủ cả hai đường.
Võ lược, văn thao, công lao lớn như vá trời tắm nhật.
Dùng mưu lược hợp thời vận, hết lòng phò vua mở mang và bồi dưỡng đức trị.
Đứng ở vị trí trung tâm của triều chính, làm khuôn mẫu về phép tắc cho trăm quan.
Là then khóa vững chắc của vùng Đông Nam, xây dựng phên giậu vững bền.
Mở mang non sông, gánh việc kinh luân từ buổi đầu gian khó.
Trấn định bờ cõi khi biến loạn,
Ra vào làm tay chân và tiếng nói của triều đình
Chấn chỉnh kỷ cương triều chính vốn từng bị lơi lỏng;
Khiến thời vận Thái giai[1] rạng rỡ, báo hiệu cảnh thái bình.
Công trạng lớn lao rực rỡ ghi trên cờ sách
Ân sủng đặc biệt thấm khắp;
Ban cho dòng chính con cháu được dựng từ đường, cơ nghiệp ngày càng hưng thịnh.
Theo lệ các đời tiên đế để ban cấp bậc, phong tước,
Xét theo chín chuẩn mực lễ nghi mà sắp đặt, thứ bậc cho các quan;
Đặc biệt ưu đãi bậc nguyên thần,
Xét công lao mà gia phong thụy hiệu.
(ông) Xứng với tam lễ, vượt lên chính phẩm. Xứng đáng được tái tấn phong cho mỹ tự: “Tán mưu vệ xã trấn cương, Thái tể Trung Quốc công” (Bày mui lược, tham dự hoạch định quốc chính, bảo vệ xã tắc, trấn giữ biên cương, chức Thái tể, tước Trung Quốc công).
Hãy để cho sự linh ứng huyền diệu âm thầm chứng giám, hưởng trọn phúc lớn, ân sâu;
Lời phong hưởng bằng thiết khoán, đan thư, ân điển truyền nối dài lâu.
Con cháu ghi danh nơi Vân Đài, thờ phụng ở Thái Thất, Hương hỏa tế tự muôn đời không dứt, phúc ấm lâu dài.
Kính thay!
GIẢI THÍCH MỘT SỐ TỪ:
1.
Thái tể: Thời Lê, Thái tể là hư hàm gọi những chức quan hàng Tể tướng bậc Tam
Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo).
2.
Trung Quốc Công: Tước vị cao nhất ban cho các công thần.
3.
Đặc tiến: hàm tản quan, quan văn Chánh nhất phẩm được vinh phong hàm Đặc tiến
Kinh tử Vinh lộc Đại phu
4.
Kinh diên: Kính diên là chức quan giảng kinh sách trong cung. Thời kỳ giảng các
quan luân lưu vào giảng, gọi là Nhập thị Kính diên.
5.
Tham tụng: Thời Lê, năm đầu Hoằng Định (1600-1619), triều vua Lê Kính Tông, bắt
đầu đặt các chức Tham tụng, Bồi tụng làm việc trong phủ chúa. Chức Tham tụng
cho thêm hàm Dự tán quốc chính (nghĩa là dự bàn chính sự nhà nước) để bàn chính
sự, bãi Tả Hữu tước và Bình chương. Từ đó về sau chính sự về phủ chúa. Tham tụng
là Tể tướng nhưng đó là quyền mà không phải chức cho nên khi chọn người không cứ
phẩm thứ, Thượng thư làm Tham tụng, Thị lang hành Tham tụng.
6.
Chưởng phủ sự: quan võ, thời Lê từ năm Giáp Thìn (1664), đặt quan Chưởng phủ sự
và Thư phủ sự của 5 phủ Đô đốc. Dùng các trọng thần thân thuộc hay có công giữ
chức này cùng với Tham tụng bên ban văn bàn chính sự.
7.
Đô hiệu điểm: Quan võ, coi cấm quân. Đứng đầu Đô hiệu điểm ty là Tả hiệu điểm
và Hữu hiệu điểm.
8.
Phụ quốc thượng tướng quân: Hàm tản quan, ban cho quan võ hàm Chánh nhất phẩm.
9.
Tả Đô đốc: Thời Lê, đặt 5 phủ là Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ,
Nam quân phủ, Bắc quân phủ, cũng gọi là Ngũ quân đô đôc phủ. Đứng đầu mỗi phủ
quân là chức Tả/hữu đô đốc. Tả/hữu đô độc trật tòng nhất phẩm, ngang Thái tử
tam thái.
10.
Thái bảo: quan đại thần, Tam thái gồm: Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Thái bảo trật
Chánh nhất phẩm.
11.
Trung Quận công: Tước công, tước vị cao cấp. Tại sắc phong này, Tiến sĩ Nhữ
Đình Toản đang là Trung Quận công được ban phong là Trung Quốc công.
Ảnh cuốn Hoạch Trạch
Nhữ tộc phả - bản lưu truyền tại họ Nhữ làng Hoạch Trạch (Hải dương), các trang
91,92, đoạn chép lại sắc tấn phong mỹ tự cho Tiến sĩ Nhữ Đình Toản.[1] Thái giai: là tên gọi khác của “Tam thái”
– ba “bậc thềm” trên trời (ba sao Tam Thai), “Thái giai hi” là Thái giai hưng
sáng, hay Tam thái rạng rỡ, nghĩa bóng là: Triều chính hưng thịnh; Triều cương
sáng rõ; Quốc gia vào thời thịnh trị...
