TỰ HẬU BI KÍ 寺后碑記 (năm 1903)
Bia Hậu Phật chùa Thánh Thọ 寺壽 聖 (nay là chùa Khánh Thọ 寺壽 慶)
(Khắc ghi: Người bản xã là Nhữ Thị Viên tình nguyện tự xuất 120 quan thanh tiền và 2 mẫu ruộng để sửa chữa chùa)
Người
dịch: Thạc sĩ Hán Nôm Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên)
Lời biên
tập:
Năm 2025, tôi được
Thạc
sĩ Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên) tặng cho cuốn sách khảo cứu, nghiên cứu khoa học về hệ thống
các văn bia Hậu Phật huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ), đây cũng là luận
văn Thạc
sĩ Hán Nôm của sư. Công trình nghiên cứu
rất có giá trị, bổ ích. Chùa Khánh Thọ làng Hoạch Trạch có 8 văn bia được khảo
cứu, dịch. Được sự
đồng ý của sư Thích Nữ Pháp Nguyên, tôi sẽ lần lượt đăng trên Cổng thông tin điện tử HNVN và các trang mạng xã hội.
Xin
cảm ơn sư Thích Nữ Pháp
Nguyên.
Tự hậu bi kí 寺后碑記 lập năm 1903, chùa Thánh Thọ, làng Hoạch Trạch
VĂN BIA SỐ 10: TỰ HẬU BI
KÍ (kí hiệu 19801)
1. Tên
bia:
Tự hậu bi kí 寺后碑記
2. Kí
hiệu: 19801
3. Địa
điểm: Thác bản bia xã Hoạch Trạch huyện Đường An phủ Bình
Giang 平江府唐安縣穫澤社, sưu tầm ở chùa Hoạch Trạch, tổng Bình An, phủ Bình Giang,
tỉnh
Hải Dương.
4. Đặc
điểm: Thác bản 1 mặt, khổ 28 x 46cm, gồm 7 dòng chữ Hán,
toàn văn ước khoảng 150 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.
5. Niên
đại:
Thành Thái thứ 15 (1903)
6. Người
soạn: không ghi
7. Tóm
lược nội dung: Nay bản xã trùng tu đình vũ, chi phí tốn
kém, người bản xã là Nhữ Thị Viên tình nguyện tự xuất 120 quan thanh tiền và 2
mẫu ruộng để cung vào nhu cầu chi phí của bản xã. Bản xã tôn bầu làm Hậu Phật.
Sau này khi bà trăm tuổi bản xã sẽ chỉnh biện cỗ chay để cúng giỗ trước bia.
8. Nguyên
văn chữ Hán:<19801>寺后碑記
平江府,能安縣,平安總,穫澤社,官員,鄉老,色目,村長,里鄉,役全社上下等,會合為置保事緣。茲社內重修亭宇需費良多,本社人汝氏員情願自出錢一百式拾貫,田貳畝以恭本社需用.仍此本社會合保為后仸一位,以伸投報之義。至於忌日整辯齋儀一盤,金銀五百在碑前敬祭如儀。由本社取田錢畝值銀三十五元存一畝具有東西四至依如田簿呈納本社依整。
成泰十五年三月二十日,立碑。
9. Dịch nghĩa:
Quan
viên, hương lão, sắc mục, thôn trưởng, lý hương cùng trên dưới toàn xã của xã
Hoạch Trạch, tổng Bình An, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, hội họp
làm việc bầu đặt. Nay trong xã trùng tu đình vũ chi phí tốn kém rất nhiều, người
bản xã là Nhữ Thị Viên tình nguyện tự xuất 120 quan thanh tiền, 2 mẫu ruộng để
cúng vào nhu cầu chi phí của bản xã. Bản xã hội hợp tôn bầu một ngôi Hậu Phật
cho bà, để bày tỏ nghĩa báo đáp. Đến ngày giỗ sửa soạn một mâm lễ chay, 500 kim
ngân đặt tại trước bia kính lễ theo nghi thức. Do bản xã lấy ruộng, định giá ba mươi lăm lạng bạc một mẫu, còn
một mẫu ghi rõ bốn phía đông tây nam bắc như trong sổ ruộng nộp trình cho xã
theo lệ mà thi hành.
Ngày 20 tháng 3 niên hiệu
Thành Thái thứ 15 (1903), lập bia.