Bia Hậu Phật chùa Thánh Thọ 寺壽 聖 (nay là chùa Khánh Thọ 寺壽 慶)
(Khắc ghi: Các bà Nhữ Thị Hi, Nhữu Thị Hí người bản xã đã xuất của riêng là 30 đồng và hai mẫu 1 sào ruộng giá 100 đồng, tổng 130 đồng để trung tu chùa)
Người dịch: Thạc sĩ Hán Nôm Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên)

Lời biên
tập:
Năm 2025, tôi được
Thạc sĩ Vũ Thị Trang (Thích Nữ Pháp Nguyên) tặng cho cuốn sách khảo cứu, nghiên cứu khoa học về hệ thống
các văn bia Hậu Phật huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ), đây cũng là luận
văn Thạc
sĩ Hán Nôm của sư. Công trình nghiên cứu
rất có giá trị, bổ ích. Chùa Khánh Thọ làng Hoạch Trạch có 8 văn bia được khảo
cứu, dịch. Được sự
đồng ý của sư Thích Nữ Pháp Nguyên, tôi sẽ lần lượt đăng trên Cổng thông tin điện tử HNVN và các trang mạng xã hội.
Xin
cảm ơn sư Thích Nữ Pháp Nguyên.
Bia BẢN TỰ HẬU VỊ (kí hiệu 19792)
1. Tên bia: Bản Tự Hậu Vị 本寺后位
2. Kí hiệu:
19792
3. Địa điểm:
Thác bản bia xã Hoạch Trạch,
tổng Bình An,
huyện Năng An,
phủ Bình Giang 平江府能安縣平安總穫澤社,sưu tầm ở chùa xã Hoạch Trạch
tổng Bình An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
4. Đặc điểm:
Thác bản 1 mặt, khô 26 x 42 cm, gồm 8 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 180 chữ,
không có hoa văn, không có chữ húy.
5. Niên đại: Bảo
Đại thứ 3 (1928)
6. Người soạn:
không ghi
7. Tóm lược nội dung:
Dân xã tu sửa đình vũ chi phí tốn kém. Các bà Nhữ Thị Hư, Nhữ Thị Hí người
trong xã, đã tự xuất của riêng là 30 đồng và 2 mẫu 1 sào ruộng, chuẩn thời giá
là 100 đồng, tổng cộng là 130 đồng, dân xã nhận lấy số tiền đó để chi tiêu
công. Quan viên, dân xã các bà làm Hậu chùa.
8. Nguyên văn chữ Hán:
<
19792> 本寺后位
平江府能安縣平安總穫澤社官員,鄉老,会同里役,会合為置保事。緣民社修理寺所,需費頗多。有社人汝氏嘘,汝氏戲等,自出家貨銀三十元,田式畝壹高準價銀壹百元,共壹百叁拾元。民社認取這銀公消,賣與伊民等。嫁母范氏帛,寺后一位。其遞年忌日,整卞齋儀,遞在碑前敬祭,以伸投报之義,永壽其傳,具有連名記結。玆立詞。
一置保寺后壹位:顯妣黎門次室范貴諱韜号善良孺人,十一月十五日忌。
保大叁年潤式月初壹日立碑記。
9. Dịch nghĩa:
<19792> Ngôi hậu
chùa ta
Quan
viên, hương lão, hội đồng lý dịch của xã Hoạch Trạch, tổng Bình An, huyện Năng
An, phủ Bình Giang hội họp làm việc bầu đặt. Nguyên do dân xã tu sửa chừa, nhu
phí tốn kém rất nhiều. Nay có người trong xã là Nhữ Thị Hư, Nhữ Thị Hí tự xuất
tiền riêng là 30 đồng và 2 mẫu 1 sào ruộng chuẩn thời giá là 100 đồng, tổng cộng
là 130 đồng. Dân xã nhận lấy số tiền đó để chi dùng vào việc công, đồng ý bán
cho mẹ các thị ấy. Mẹ của các thị ấy là Phạm Thị Bạch một ngồi hậu chùa. Ngày
giỗ hằng năm sửa soạn lễ chay đặt tại trước bia kính lễ, để bày tỏ nghĩa báo
đáp, lưu truyền được lâu dài, có đầy đủ các bên ký kết. Nay lập đơn bầu.
Đặt
bầu một ngôi hậu Phật: Hiển tỷ thứ thất nhà họ Lê - Phạm quý húy
Thao hiệu Thiện Lương nhụ
nhân, giỗ ngày 15 tháng 11.
Ngày
1 tháng 2 nhuận năm Bảo Đại thứ 3, lập bia ghi chép.