TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH HIỀN (1659 – 1716)

TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH HIỀN (1659 – 1716)

Nhà thờ họ Nhữ Hoạch Trạch. ảnh Nhữ Đình Hoa

            Tiến sĩ Nhữ Tiến Hiền, sinh ngày 4 tháng 2 năm Kỷ Hợi (1659), Ông là con trai thứ ba của tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng. Tên đi thi là Tiến Hiền, sau đổi sang Đình Hiền. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5 (1680) triều vua Lê Hy Tông. Ông làm quan trải nhiều chức thăng đến Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Nhập nội thị Bồi tụng, Hình Bộ Thượng Thư, Thọ nhạc Hầu. Đến đời Cảnh Hưng, Ông được truy phong Lễ Bộ Thượng thư, Thái phó, Thọ Quận Công, Thượng Trụ quốc Thượng trật.

            Sắc văn bao phong niên hiệu Cảnh Hưng, vua Lê Hiển Tông đã hết lợi ca ngợi ông: Duy công: Tinh thần dục tú; Hà hải chung anhÔng được tinh tú hun đúc vẻ đẹp, sông biển hội tụ tinh anh. Từ thuở nhỏ đã ôm chí lớn rạng rỡ như mặt trời đang lên, khi trưởng thành đủ khí nghiệp vươn cao tận mây xanh. Ba lần được tiến cử vào hàng hiền năng; sáu điều liêm chính giữ trọn”. Được ban mỹ tự: “Đức Vọng Khang Tế Cảnh Lượng” - Đức vọng cao dày, cứu đời an dân, chí khí quang minh.

            Sách Lịch Triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết: “Nhữ Tiến Hiền, đỗ Tiến sĩ năm Canh Thân đời Vĩnh Trị (1680), đi sứ, trải làm đến Thượng thư bộ Hình và Bồi tụng. Tiến Hiền xử kiện công bình đúng đắn, chính sự nổi tiếng, bấy giờ ai cũng khen. Cuối đời Vĩnh Hựu (Nhữ Tiến Hiền) chết. Đầu đời Cảnh Hưng, triều đình tặng hàm Thiếu phó, Thọ quận công. Bài chế đại lược rằng: “Lên chức ngự sử, tham dự chốn đô đài, trong sạch như sương; Lên chức thượng thư mà làm tể tướng, thường bày mưu lớn. Công lao trong sử sách ghi chép rõ ràng; Tri ngộ từ triều trước đến giờ vẫn không kém. Địa vị có phần chưa xứng với tài, những mong mơ Phó Duyệt nêm canh; Lộc và phúc để về sau, sẽ được hòe họ Vương tươi tốt”. Lại có câu:Cây cả nối dấu thơm, trải ba đời tiếng tăm lừng lẫy một mình ông kiêm cả "tác và thuật"; Gốc cam đường rủ bóng, hơn trăm năm mà chính tích như mới, trẫm còn nhớ muôn miệng ngợi khen".

            Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền tham gia tổ chức quản lý một số kỳ thi, khoa thi nho học, như Ông được giao làm giám thí, tức phó chủ khảo kỳ thi Đình, khoa thi Canh Dần, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 6 (1710).

            Chuyến đi sứ nhà Thanh từ tháng giêng năm Đinh Sửu (1697)  đến tháng 4 năm Mậu Dần (1698) cũng là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp quan lộ của Nhữ Đình Hiền. Nhiệm vụ của chuyến đi là “nộp lễ tuế cống, nhân tiện tâu bày cả việc biên giới Tuyên Quang, Hưng Hóa nữa”. Bằng tài năng và sự khôn khéo, phái đoàn sứ thần đã “đem việc mất 3 động…(ra) tâu bầy và biện luận”. Tuy việc đòi đất trong chuyến đi sứ không thành công nhưng bằng sự kiên trì trong nhiều chục năm liền, của nhiều phái đoàn khác nhau, cuối cùng năm Bảo Thái thứ 9 (1728), nhà Thanh cũng đã trả lại một vài vùng đất đã chiếm như “núi xưởng chì ở Vị Xuyên, núi xưởng đồng ở Tụ Long…”. Khi về nước, mọi người trong phái đoàn đều được thăng chức, Nhữ Đình Hiền được thăng chức Hữu Thị lang Bộ Công.

            Nhữ Đình Hiền giỏi chính sự, xử kiện, xét đoán phân minh, cuốn Hoạch Trạch Nhữ tộc phả và sử sách còn ghi lại nhiều vụ điều tra, xử án tài tình của ông, tiêu biểu như vụ “giả mộng tìm kẻ ác[1]. Tác phẩm thơ Quốc âm (chữ Nôm) 海陽風物曲用國音歌 - Hải Dương phong vật khúc dụng quốc âm ca của tác giả Hương cống Trợ giáo Trần Huy Phác, sáng tác thời vua Gia Long, triều Nguyễn (đầu thế kỷ 19), đã ca ngợi gia đình và cá nhân Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền:

Nhà họ Nhữ quan trâm kế thế,

Có tiếng hay chỉnh sự dậy dàng

Tụng tình soi sáng bằng gương

Hồn oan dưới tháp suối vàng còn ơn

            Sách Đăng khoa lục sưu giảng, do Trần Tiến - Tiến sĩ thời Lê - Trịnh biên soạn đã chép về Nhữ Đình Hiền: là người có danh tiếng, nên đời có câu rằng:

                        Văn chương Lê Anh Tuấn[2]

                        Chính trị Nhữ Đình Hiền

            Dịch nghĩa

                        Giỏi văn chương như ông Lê Anh Tuấn;

                        Giỏi chính trị như ông Nhữ Đình Hiền.

            Ông mất ngày 26 tháng 5 năm Bính Thân (1716). Hiện nay, Nhà thờ dòng họ Nhữ Hoạch Trạch tại thôn Tó, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ), đồng thời cũng là đền thờ Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền – ông tổ làng nghề lược tre, năm 1993, được cấp bằng công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia. Tại thành phố Hải Dương, một đường phố mang tên danh nhân văn hóa, khoa bảng Nhữ Đình Hiền.


[1] Xem trong phần Nhữ Đình Hiền, bản dịch cuốn Hoạch Trạch Nhữu tộc phả

[2] Lê Anh Tuấn (1671-1736): hiệu Địch Hiên, là danh thần, và nhà thơ Việt Nam thời Lê trung hưng. Người xã Thanh Mai, huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây (nay là thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Đời vua Lê Hy Tông, năm Giáp Tuất (1694), Lê Anh Tuấn thi đỗ Tiến sĩ, được bổ chức quan.

 

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn