BẢNG NHÃN NHỮ TRỌNG THAI

 BẢNG NHÃN NHỮ TRỌNG THAI

Cuốn Hoạch Trạch Nhữ tộc phả

            Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai (汝仲台) là cháu nội Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng, con trai nho sinh Chiêu văn quán Nhữ Đình Thiện, là hậu duệ đời thứ chín của Tiến sĩ Nhữ Văn Lan. Đỗ đệ nhất giáp cập kệ, Đệ nhị danh (bảng nhãn) khoa thi Quý Sửu, niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733) đời vua Lê Thuần Tông. Ông là người đỗ cao nhất khoa thi này (đình nguyên). Làm quan đến Hiến sát sứ. Chữ “ Thai” (sao Thai) tên của ông còn có phiên âm khác là “Đài”, do vậy, nhiều sách đã dịch tên ông là Nhữ Trọng Đài.

            Sách “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả” bản lưu bản trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu lưu trữ: A.677, MF.1484 chép: “... (Nhữ Trọng Thai) giữ chức Hiến sát sứ ty ở Thái Nguyên thuộc Mậu Lâm bộ, tự Nhã Hành, hiệu Đôn Thạc, tên húy là Thai, Phương. Sinh năm Bính Tý (1696), giờ Canh Tý (23h–1h đêm), ngày 19 tháng 10. Mất ngày 12 tháng 6 năm Ất Sửu (1745)?. Chính thất (bà vợ cả) họ Phạm, hiệu Thiện Lương, tên húy Quỳnh, mất ngày mồng 8 tháng Giêng”.

            Sách “Đăng khoa lục sưu giảng” của Tiến sĩ Trần Tiền (thời Lê Trịnh) trong bài Nhữ Trọng Thai chép: Gia thế nhà ông đời đời đăng khoa. Ông nội là Nhữ Tiến Dụng, 42 tuổi, đậu Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị, triều vua Lê Huyền Tôn; chú họ của ông là Đình Hiền đều là người có danh tiếng, nên đời có câu rằngVăn chương Lê Anh Tuấn - Chính trị Nhữ Đình Hiền”. Lại còn người em họ của ông là Nhữ Đình Toản, 34 tuổi, đậu tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu. Ông là bác của Công Trấn. Họ Nhữ làng Hoạch Trạch cũng nổi tiếng bằng họ Vũ làng Mộ Trạch. Năm 38 tuổi, ông đậu Bảng Nhãn”.

             Sách “Đăng khoa lục sưu giảng” cũng chép giai thoại:Trước ngày vào Đình thí, các ông đồng khoa muốn cùng kéo nhau đi cầu mộng ở Châu Quán (ở phía bắc thành Hà Nội), nghĩa là muốn dự biết công việc thi Đình. Ông vì mắc bận việc, không đi, nên giỡn chơi nói: "Các anh có đi, thì cầu giùm tôi nhé". Rồi các ông này đi. Đêm hôm đó thấy thần báo mộng rằng: "Tam khôi thiên hạ là Thái Công". Sáng hôm sau thì mọi người đều không hiếu ra sao, nên đều kéo cả về nhà ông kể mộng cho ông nghe, và nói là không hiểu là ý nghĩa thế nào! Ông liền đáp rằng: "Tôi nhờ các anh cầu giùm tôi, là thần báo tôi", các ông này liền hỏi lại. Ông nói chữ Thái Công, nói lộn lại, chả phải Cống Thai là gì, mọi người đều cho là phải và lấy làm lạ. Đến hôm Đình thí, quả nhiên ông đỗ Bảng nhãn”.

    Sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (quyền 39) của Quốc Sử quán triều Nguyễn chép: “Tháng giêng năm Tân Dậu, niên hiệu cảnh hưng thứ 2 (1741)… Thanh thế Nguyễn Tuyển rất lừng lẫy. triều đình sai Đặng Đình Luận làm đốc lãnh thương đạo Hải Dương, Trần Trọng Liêu và Nhữ Trọng Thai giữ chức hiệp đồng đem quân đi đánh. Bọn này tiến quân ở Đông Triều. Tuyển sai người xin hàng. Đình Luận tin lời, không phòng bị. Đêm đến Tuyển đánh úp doanh trại. Đình Luận, Trọng Liêu và Trọng Thai bị thua, bọn Đình Luận trốn về, đều bị lột hết quan chức và tước phẩm”. 

            Sách Hoạch Trạch Nhữ tộc phả bản lưu tại Viên nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu lưu trữ A.677, MF.1484 lại ghi chép việc khi về già, ông Nhữ Trọng Thai nhiều lần xin cáo quan về trí sĩ và được vua chấp thuận, em họ ông là Tiến sĩ Nhữ Đình Toản đã soạn bài từ[1] kèm lời dẫn tặng ông (汝台兄致仕詞并引Nhữ Thai huynh trí sĩ từ tịnh dẫn). Lời dẫn viết: “Nay được biết (anh) đã dập dềnh vượt biển Đông (ẩn dụ tuổi cao), sao Bắc Đẩu sáng rực phương Nam (chúc thọ), ba lần dâng biểu xin về hưu, toại nguyện ước mong lâu nay. Cửu trùng (nhà vua) hậu đãi, ưu ái người già, ban ân huệ đặc biệt. Thai huynh một lần thi đỗ khoa danh, hai lần làm quan đảm đương chức vị thích hợp, phẩm hạnh sáng ngời, văn chương rực rỡ, xoay vần nơi trường thi, trên đàn nghệ thuật, văn võ song toàn. Ra vào hàng bát tể (đại thần), cầm quân nơi biên ải, không để bụi trần che mờ trí giám, tháo mũ quan mà vẫn giữ trọn khí tiết thanh cao”. Qua nội dung lời dẫn thấy rằng: sau lần bị cắt hết các chức tước năm Tân Dậu, Nhữ Trọng Thai đã được bổ nhiệm làm quan lần hai, đảm đương nhiều chức vụ quan trong cả văn và võ, ông xin về trí sĩ khi tuổi cao, sức yếu. 

            Nhà nghiên cứu văn hóa, chuyên nghiên cứu hát bội, nổi tiếng Việt Nam Vũ Ngọc Liễn, trong sách “Vũ Ngọc Liễn – Góp nhặt dọc đường” (nxb Sân khấu 2010), có bài Khảo cứu câu đối của sứ thần triều Tây Sơn – Nhữ Trọng Thai, ông viết: “Từ những năm 1977-1987, trong quá trình mò mẫm dò tìm các nguồn tư liệu, tài liệu nghiên cứu Đào Tấn, tôi may mắn được ông Mạc Như Tòng ở Quy Nhơn trao cho tập tài liệu chữ Hán chép tay dày 89 trang giấy dó, bìa ngoài đề Danh liền hợp toản. Cả tập chép trên 500 câu đối các loại. Theo ông Mạc Như Tòng thì đây là tập bản thảo do cụ Phó bảng Đào Phan Duân sưu tầm, Ở phần 2 (chép) câu đối mừng thọ vua Càn Long 80 tuổi. Và đây là toàn văn câu đối ấy:

            - Long phi ngũ thập hữu ngũ niên, ngũ số hợp thiên, ngũ số hợp địa, ngũ sự tu, ngũ hành thuận, ngũ đại đồng đường, linh lung ngũ phụng lâu tiền, ngũ sắc côn hoàng huy thể thụ;

            - Thánh thọ bát tuần phùng bát nguyệt, bát thiên vi xuân, bát thiên vi thu, bát nguyên tiến, bát khải đăng, bát phương hướng hóa, cổ vũ bát loan điện lý, bát tiên phiêu miểu tấu nghê thường.

(Thanh, Càn Long đế bát tuần khánh tiết điện trụ liễn, bản quốc sứ thần Nhữ Trọng Thai tác).

Tạm dịch nghĩa:

            - Rồng bay năm chục lẻ năm năm, số năm hợp với trời, số năm hợp với đất, năm sự trau dồi, năm hành xuôi thuận, năm đời chung sống cùng nhà, trước lầu năm chim phụng long lanh, năm sắc đan xen chói rực cây màu lộng lẫy;

            - Lễ thọ nhà vua tám tuần vào dịp tháng tám, tám ngàn năm là mùa xuân, tám ngàn năm là mùa thu, tám nguyên hiền tài đến, tám khải kẻ sĩ chầu, tám cõi đổi đời, cổ vũ tám chim loan trong điện. Tám nàng tiên thăm thẳm dâng điệu múa nghê thường.

(Câu đối treo ở trụ trong ngôi điện mừng thọ vua Càn Long nhà Thanh 80 tuổi, do sứ thần nước ta là Nhữ Trọng Thai viết)...

            Tôi gọi câu đối này là tác phẩm nghệ thuật ở lãnh vực ngoại giao, một tác phẩm làm nên bằng trí tuệ độc đáo và học vấn uyên thâm. Cái độc đáo, cái uyên thâm ở chỗ dường như cả câu đối 76 con chữ chỉ nói việc mừng thọ nhà vua thôi chứ không nói gì khác cả mà lại nói được tất cả” (hết trích).

            Xét về tuổi tác, Bảng nhãn Nhữ Trọng Thái rất ít khả năng tham gia được đoàn sứ bộ sang mừng thọ vua Càn Long 80 tuổi, bởi khi đó, nếu còn sống, ông cũng đã rất già, việc ông là tác gia soạn câu đối cho triều đình để sứ bộ dâng mừng thọ vua nhà Thanh cũng có thể xảy ra.

            Bãng Nhãn Nhữ Trọng Thai là nhà khoa bảng tài danh nổi tiếng thời Lê - Trịnh, là người đỗ đạt cao nhất trong số các nhà khoa bảng họ Nhữ. Đường quan lộ của ông gặp nhiều trắc trở, có thất bại, có thành công. Cuốn Hoạch Trạch Nhữ Tộc phả, bản đang lưu truyền ở làng Hoạch Trạch (Hải Dương) quê ông, hầu như không có ghi chép gì nhiều về ông. Cuộc đời, sự nghiệp văn thơ, khoa bảng, quan lộ của danh nhân khoa bảng Nhữ Trọng Thai rất cần tiếp tục được hậu thế khảo cứu và tôn vinh xứng tầm.

 

 



[1] Bài từ: còn gọi là “từ khúc” được viết theo các “từ điệu” để hát, tuân thủ niêm luật chặt chẽ, là loại hình văn học, nghệ thuật thịnh hành từ thời Tống (Trung Quốc), có câu: Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh Thanh tiểu thuyết. Các tác gia Việt Nam ít viết từ. Bài từ Nhữ Đình Toản viết theo từ điệu Mãn Giang Hồng.

 

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn