CÂU ĐỐI CÁC ĐẠI THẦN TẶNG TIẾN SĨ NHỮ ĐÌNH TOẢN

Nguồn tư liệu: chép trong cuốn Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, bản Viện Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu lưu trữ: A.677, MF.1484. Ảnh chụp các trang số 43,44,45,46,47 ở phần tư liệu.
國老公致仕日朝官賀對聯 - Quốc lão công trí sĩ nhật, triều quan hạ, đối liên.
Nhân Quốc lão công về trí sĩ, các triều quan kính mừng bằng câu đối.
1. 黃阁昔年咸一德 Hoàng các tích niên hàm nhất đức
綠堂今日達三尊 Lục đường kim nhật đạt tam tôn
Dịch
nghĩa:
Gác vàng năm xưa một lòng nhân đức (giữ gìn đức tốt);
Nhà biếc ngày nay đạt tam tôn
(đến ngày nay đạt ba tôn quý).
Dịch ý có liêm luật câu đối:
Gác vàng năm cũ đồng tâm đức;
Phủ ngọc hôm nay rạng bậc tôn.
Giải nghĩa: Câu đối vế trên ca ngợi thế hệ trước (cụ Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền...) đã giữ gìn đức tốt. Vế dưới ca ngợi gia đình (nhà biếc/xanh) đến ngày nay đã có ba người đỗ đạt, thành đạt là bậc tôn quý, đó là ba thế hệ ông TS Nhữ Tiến Dụng, Cha TS Nhữ Đình Hiền và con TS Nhữ Công Toản. Cũng có hàm ý là ca ngợi TS Nhữ Đình Toản là bậc tôn quý.
2. 渥瀀國寵新三命 Ốc ưu quốc sủng tân tam mệnh
清白家風舊四知 Thanh bạch gia phong cựu tứ tri.
Dịch
có liêm luật câu đối:
Quốc gia ân sủng, ba lần ban chức
mới;
Nếp nhà thanh bạch, bốn điều sáng
từ xưa.
Hoặc:
Ơn
nước đượm dày, ba chiếu mới vinh danh xứng bậc;
Nếp
nhà thanh bạch, bốn điều xưa giữ trọn lòng son.
3. 奕葉科名三鼎甲 Dịch diệp khoa danh tam
đỉnh giáp
一門宦業兩台衡 Nhất môn hoạn nghiệp
lưỡng đài hành.
Dịch
nghĩa:
Nối đời thi đỗ đạt, ba lần chiếm
bảng vàng đại khoa;
Một nhà làm quan hiển hách, từng
giữ trọng trách, cương vị cấp cao.
(như giữ các chức thượng thư,
tham tụng ở quan văn, Tả đô đốc ở quan võ, hay giữ trọng trách ở các viện như
Hàn Lâm viện v.v...)
Dịch có liêm luật câu đối:
Nối
nghiệp tổ tông, ba bảng vàng rạng rỡ;
Một
nhà danh hiển, đôi đài ngọc vinh quang.
Danh
bảng ba đời, vinh khoa rạng tông tổ;
Quan
trường một họ, đứng trọng lưỡng đài hành.
4. 名望不隨雙鬂白 Danh vọng bất tùy song
mấn bạch
忠勤猶記寸心丹 Trung cần do ký thốn tâm
đan.
Dịch
nghĩa:
Danh vọng không giảm dù hai bên
tóc mai bạc (ý là danh vọng không hề thuyên giảm theo tuổi cao);
Lòng trung cần vẫn còn ghi tạc
trong trái tim son (ý là dù thời gian trôi qua, lòng trung nghĩa vẫn không đổi thay).
Danh chẳng nhạt phai theo mái tóc
bạc sương;
Lòng son trung nghĩa vẫn ghi
trong tấc dạ.
5. 儒科相阀家声舊 Nho khoa tướng phiệt gia thanh cựu
武鉞文台國寵新 Vũ việt văn đài quốc sủng tân
Dịch
nghĩa:
Đỗ đạt Nho khoa, làm tướng phiệt
vốn là nếp nhà xưa (ý là danh tiếng khoa bảng: Nho gia của dòng tộc đã lâu đời, truyền tiếp);
Làm quan võ giỏi, làm quan văn
tài ơn nước mới (ca ngợi cụ Nhữ Công Toản đỗ đại khoa nho học, làm quan văn tài, làm quan
võ giỏi).
Dịch có liêm luật câu đối:
Nho học nối dòng, danh vọng cũ truyền vang thế tộc;
Văn tài võ lược, ân sủng mới rạng rỡ triều trung.
6. 文才政學誠雙絕 Văn tài
chính học thành song tuyệt
知遇勳名又一奇 Tri ngộ huân danh hựu nhất kỳ
Dịch nghĩa:
Tài năng về văn chương, học vấn về chính trị, quản trị, trị nước - cả hai đều
vượt trội;
Được trọng dụng, có danh tiếng nhờ công lao, thành tích - quả là xuất
chúng.
Dịch có liêm luật câu đối:
Văn trị đôi đường, đều tuyệt hạng;
Công danh một thuở, lại kỳ nhân.
7. 漢里已糜疏傅駟 Hán lý dĩ mi Sơ Phó tứ
宋衡猶諍潞公車 Tống hành do tránh Lộ Công xa
Dịch nghĩa:
Chuyện đời Hán, cỗ xe tứ mã của Sơ Phó từ lâu đã tan hoang;
Chuyện đời Tống, danh tước Lộ Quốc công đến nay vẫn còn gây tranh cãi.
Ý của câu đối là: Mọi vinh
hoa, phú quý chỉ là hư ảo, phù phiếm. Là
câu đối hay, tặng vị quan lớn khi ngài về trí sĩ.
Giải thích câu đối theo các
điển tích:
Câu trên: nhắc tới tích quan
Thái phó (họ Sơ) và cỗ xe tứ mã, đó là Sơ Quảng và Sơ Thọ thời Tây Hán, đều làm
đến chức Thái phó, là thầy dạy Thái tử, khi về trí sĩ được vua kính trọng thầy
dạy cũ, ban cho xe tứ mã, một vinh hoa, ân điển lớn. Dĩ mi (已糜) là đã tan nát. Nghĩa câu này: Cỗ xe tứ mã của quan Sơ Phó đã tan nát từ
lâu.
Câu dưới: Nhắc tới Lộ Công
xa, tức xe của Lộ Quốc Công, một danh thần đời Bắc Tống là Tư Mã Quang, khi mất
triều đình tranh cãi là nên phong tước “Văn Chính Công” hay “Lộ Quốc Công”, cuối
cùng vua Tống Huy Tông phong là “Lộ Quốc công”. Do tránh (猶諍) là tranh cãi. Nghĩa câu này: Phẩm tước cao quý Lộ Quốc Công đến nay
còn gây tranh cãi.
8. 戎幕笑誒神將畧 Nhung mạc tiếu đàm thần tướng lược
岩廊籌昼敏膚公 Nham lang trù trú mẫn Phu công
Dịch nghĩa:
Nơi trướng trận, cười nói ung dung bàn việc – thật là một thần tướng mưu lược;
Chốn triều đường, lo việc suốt ngày – Phu công sáng suốt tận tâm.
9. 王第两畨停玉蹕 Vương đệ lưỡng phiên đình Ngọc tất
趙堂三接贊宸猷 Triệu đường tam tiếp tán thần du
Dịch nghĩa:
Trước phủ vương, xa giá Ngọc hai phen dừng lại, (vua
đích thân đến thăm, thể hiện sự trọng đãi đặc biệt, “đình” là dừng, “Ngọc tất”
là xe ngọc, hay xa giá vua);
Nơi triều Triệu, ba lượt được triệu vào bàn mưu lớn (ba lần được vua tiếp kiến để bàn việc nước).
Vương
phủ đôi phen dừng Ngự giá;
Triệu
đường ba lượt góp mưu vua.
10. 一門科榜書香舊 Nhất môn khoa bảng thư hương cựu
三葉圭簪昼錦新 Tam diệp khuê trâm trú cẩm tân
Dịch nghĩa:
Cả một nhà, nhiều đời khoa bảng, truyền thống thư hương từ xưa;
Ba đời hiển đạt, mũ áo vinh quy, vinh quang rạng rỡ mới đây.
11. 唐務整釐桃筆力 Đường vụ chỉnh ly, đào bút lực
宋恩瀀渥普詩章 Tống ân ưu ốc, phổ thi chương
Dịch nghĩa:
Việc nước chỉnh lý sắp đặt như thời Đường, bút lực thật dồi dào;
Ân vua chan chứa tựa Tống triều, thơ văn truyền khắp chốn.
Ca
ngợi tài chính sự và tài thơ văn của cụ Nhữ Đình Toản, được vua tin dùng. Theo bộ sử “Khâm Định Việt Sử Thông Giám cương”: tháng 6 (1751), Tham tụng Nhữ Đình Toản soạn
sách Bách Ti thứ vụ, hay tên khác là Tấn thân thực lục xếp đặt, điều chỉnh quan
chức, phẩm trật, lại ban hành 9 điều nói rõ chức trách công việc các quan trong
kinh, ngoài trấn... Đây là một cuộc cải cách lớn về quản lý hành chính nhà
nước, giúp mọi hoạt động nhà nước đi vào quy củ, được đương thời ca ngợi. Tháng
3 (1751), ông đề xuất thay đổi về thi cử, Phan Huy Chú viết: “Ông lại cho văn chương đời ấy thường chuộng rườm rỡ,
vụn vặt, dần dần mất cả thuần hậu. Ông xin với chúa xuống chỉ dụ khôi phục lại
theo như thể văn đời Hồng Đức, thi Hương, thi Hội đều dùng lối văn bình dị, bỏ
lối viết vụn vặt. Từ đấy lối văn thi cứ mới thay đổi hết, những người học thức
ai cũng khen”.
12.
讓直齊文黃阁日 Nhượng trực tề văn hoàng các nhật
操琴携酒錦堂年 Thao cầm huề tửu cẩm đường niên
Dịch nghĩa:
Nhường nhịn điều ngay thẳng, văn trị được chỉnh đốn, dưới ánh sáng rực rỡ
nơi gác vàng;
Gảy đàn nâng rượu, những năm tháng đẹp trong phòng gấm;
Dịch có liêm luật câu đối:
Gảy khúc nâng ly, phong nhã thắm trong nhà gấm;
Nhường chính sửa nghiêm, văn trị rạng nơi gác vàng.
13. 學博鈐鐄文可武 Học bác kiềm hoàng, văn khả vũ
家傳圭組孝移忠 Gia truyền khuê tổ, hiếu di trung
Dịch
nghĩa:
Học rộng, tài năng kiềm hoàng – văn võ đều giỏi;
Gia phong khê tổ lưu truyền – hiếu thảo hóa thành trung nghĩa.
Dịch ý:
Học rộng tài cao, văn võ đều giỏi;
Gia phong thanh quý, hiếu trung nối tổ tiên.
Giải nghĩa từ ngữ: 學博 (học bác): học rộng, uyên bác; 鈐鐄
(kiềm hoàng): chuông và khánh – biểu tượng của nghi lễ, điển cố chỉ uy quyền,
nghiêm minh (cũng có thể chỉ văn võ song toàn); 文可武
(văn khả vũ): văn cũng được, mà võ cũng hay – người vừa có tài văn, vừa có tài
võ; 家傳 (gia truyền): truyền thống gia tộc; 圭組 (khuê tổ): “khuê” là ngọc quý (圭), “tổ” là dây tua –
điển cố dùng để chỉ phẩm cách cao quý, gia phong lễ nghi; 孝移忠 (hiếu di trung): từ lòng hiếu với cha mẹ mà mở rộng thành trung với vua nước
– đúng tinh thần Nho giáo: hiếu – trung tương thông.
14. 塩梅劑量岩廊老 Diêm mai tễ lượng nham lang lão
杖履優閒陸地仙 Trượng lý ưu nhàn lục địa tiên
Dịch nghĩa:
Khéo hòa đạo lý, lão thần nơi gác đá;
Ung dung gậy guốc, trần thế dáng thần tiên.
Đây là câu đối rất hay tặng
vị lão quan tài năng, về trí sĩ.
Giải thích các từ:
塩梅 (diêm mai): muối và mơ – nghĩa gốc là gia vị, ý chỉ sự điều hòa, khéo léo
trong ứng xử hoặc trị chính; 劑量 (tễ lượng): đo lường thuốc
men – cũng ẩn dụ sự cẩn trọng, khéo léo trong quyết định; 岩廊 (nham lang): hành lang đá – nơi làm việc của quan đại thần trong cung
đình; 老 (lão): người già, ý chỉ bậc cao niên, lão thành.
Vế trên: ca ngợi người có đức
độ, từng trải, khéo điều hành – thường dùng để ca ngợi bậc lão thần, danh sĩ về
hưu.
杖履 (trượng lý): gậy và dép – biểu tượng của người già thanh nhàn; 優閒 (ưu nhàn): ung dung, an nhàn; 陸地仙 (lục
địa tiên): tiên nơi đất liền – ví von người sống cảnh đời như thần tiên, không
cần lên núi hay ẩn cư
Vế dưới: mô tả cuộc sống
thanh thản, an nhàn tuổi già – như một vị tiên giữa trần gian.
15. 鳴世文章家杼柚 Minh thế văn chương gia trữ dụ
瑞辰望國德璠璵 Thụy thời vọng quốc đức phàn dư
Dịch nghĩa:
Văn chương vang thế, bậc thầy khéo đan ý tưởng;
Danh cao vận sáng, đức ví như ngọc sáng ngời.
Hoặc:
Văn chương lừng thế, lời ngọc ý sâu;
Đức vọng nước nhà, danh cao ngọc sáng.
Giải nghĩa từ ngữ: 鳴世 (minh thế): vang danh trong đời; 文章家
(văn chương gia): bậc thầy văn học; 杼柚
(trữ dụ): hai bộ phận của khung cửi – ẩn dụ cho sự khéo léo, đan dệt tư tưởng,
tổ chức lời văn tinh tế; 瑞辰 (thụy thời): ngày lành, thời
vận tốt; 望國 (vọng quốc): người được quốc gia ngưỡng vọng; 德璠璵 (đức phàn dư): 璠 và 璵 đều là loại ngọc
quý – tượng trưng cho phẩm đức cao sang, tài năng chưa mài dũa nhưng sáng ngời.
16. 梧鳳和鳴國音瑞 Ngô phụng hoà minh quốc âm thụy
蓴鱸逸興出塵仙 Thuần lư dật hứng xuất trần tiên
Dịch nghĩa:
Phượng hót ngô đồng, tiếng nước hòa vang điềm thịnh trị;
Cá lư rau thuần, hứng đời thanh thoát dáng thần tiên.
Hoặc:
Thuần lư thanh vị, hứng nhàn như thoát tục;
Phượng hót hòa ca, âm quốc thắm điềm lành.
Giải nghĩa các từ:
梧鳳 (ngô phụng): chim phượng hoàng hót trên cây ngô đồng – biểu tượng cho bậc
minh quân, hiền tài; 和鳴 (hoà minh): tiếng ca hòa hợp
– biểu trưng cho thịnh trị, hòa bình; 國音瑞
(quốc âm thụy): tiếng lành của đất nước, âm thanh cát tường
Ý vế trên: Tiếng ca hòa nhã
giữa thời thái bình, tượng trưng cho điềm lành của quốc gia
蓴鱸 (thuần lư): canh rau thuần (rau rút) và cá lư – điển tích từ Tả Tông Chi
(Tấn) bỏ quan về quê vì nhớ món ăn quê nhà; 逸興 (dật
hứng): hứng thú thanh nhàn, vượt ngoài danh lợi; 出塵仙
(xuất trần tiên): người như tiên thoát khỏi bụi trần – ẩn sĩ, sống cao khiết
Ý vế dưới: Hứng thú thanh
cao, vượt ngoài trần thế, như tiên nhân giữa nhân gian.
17. 已喜香山添十老 Dĩ hỉ Hương Sơn thiêm thập lão
更傳南極燦三台 Canh truyền Nam Cực xán Tam Đài
Dịch nghĩa:
Đã mừng Hương Sơn thêm mười bậc lão;
Lại truyền Nam Cực rạng ba ngôi sao.
Dịch có liêm luật câu đối:
Đã mừng Hương Sơn thêm bậc thọ;
Lại rạng Nam Cực chiếu Tam Đài.
Giải nghĩa các từ: 香山 (Hương Sơn): thường dùng để chỉ nơi cư ngụ của người già, hoặc là một cách
nói ẩn dụ về tuổi già, tuổi thọ. 十老
(thập lão): mười bậc lão – ý chỉ người cao tuổi, nhiều tuổi thọ. 南極 (Nam Cực): sao Nam Cực, trong văn hóa Trung Hoa là sao tượng trưng cho sự
trường thọ. 三台 (Tam Đài): ba ngôi sao sáng trong chòm sao, cũng là biểu tượng của sự cát
tường, phú quý. 燦 (xán): sáng rực, rạng rỡ.
18. 髮為忠勤霜点鬂 Phát vi trung cần sương điểm mấn
眉因平格壽生毫 Mi nhân bình cách thọ sinh hào
Dịch nghĩa:
Tóc bạc nhuốm đôi thái dương vì lòng trung thành, siêng năng;
Lông mày điểm sợi trường thọ bởi đức độ ngay thẳng, công minh.
Dịch có liêm luật câu đối:
Tóc điểm sương thái dương, trung cần tận tụy;
Mày ngời sợi trường sinh, đức độ thẳng ngay.
Hình ảnh tóc bạc ở hai bên
thái dương (鬂 mấn) tượng trưng cho sự tận tụy, hy sinh vì việc nước, đạo
nghĩa. "Sương" (霜) ví von mái tóc bạc như sương phủ, thể hiện dấu ấn
thời gian và công lao. Trong văn hóa Á Đông, lông mày dài (壽眉 thọ mi) là biểu tượng của trường thọ. "平格
bình cách" chỉ sự công bằng, chính trực, nhờ đức tính này mà được hưởng
phúc trường sinh.
Câu đối ca ngợi một người
cao tuổi, tóc đã bạc vì sống đời trung hậu, cần cù; lông mày thanh thoát thể hiện
nhân cách bình hòa và trường thọ. Đây là lời chúc thọ đầy ý nghĩa, vừa ca ngợi
đức hạnh vừa ngợi ca tướng mạo đáng kính.
19. 歸興暫隨鞍馬爽 Quy hưng tạm tùy an mã sảng
癯顔長為奈盘韶 Cù nhan trường vị nại bàn thiều
Dịch nghĩa:
Lòng muốn về, tạm theo ngựa xe cho thỏa chí;
Thân gầy này, đành nán lại vì thời vận còn xuân.
20. 迹蒪疏韋輕去漢 Tích thuần Sơ Vi khinh khứ Hán
身都裴郭繫安唐 Thân đô Bùi Quách hệ an Đường
Dịch nghĩa:
Theo dấu đời rau dưa, Sơ – Vi nhẹ gót rời triều Hán;
Gắn trọn thân mình, Bùi – Quách dốc sức giữ nhà Đường.
Dấu thanh bần, Sơ – Vi nhẹ gót rời Hán thất;
Thân gắn bó, Bùi – Quách dốc lực giữ Đường triều.
Giải
nghĩa:
“蒪 thuần” là rau thuần, hay tên khác là rau rút, “tích thuần
迹蒪” là nhắc đến điển cố: nỗi nhớ rau thuần (rau rút),
cá sông Lư.
“Sơ - Vi 疏韋”: chỉ người họ Sơ, họ Vi là các kẻ sĩ, cũng là các
quan đại thần Trung Quốc xưa.
“Khinh khứ Hán 輕去漢”: nhẹ rời khỏi nhà Hán.
Vế 1: “Tích thuần Sơ Vi khinh khứ Hán” – Câu này gọi hình ảnh kẻ sĩ thanh
cao, không màng danh lợi, xem nhẹ vinh hoa nơi triều Hán.
“Thân đô 身都”: thân phận chốn đô hội.
“Bùi - Quách 裴郭”: Chỉ hai họ Bùi, Quách –
danh thần nhà Đường.
“hệ an Đường 繫安唐”: Gắn bó với triều Đường
thái bình, thịnh trị.
Vế 2: “Thân đô Bùi - Quách hệ an Đường” – Câu này nói về bậc hiền sĩ gắn bó
cùng triều đại thịnh trị.
Tóm lại ý toàn câu đối:
Một bên là thoát tục, thanh cao, rời xa quyền thế (Hán);
Một bên là gắn bó, góp sức cho triều đại thịnh trị (Đường)
21. 兩階鈞鉞文而武 Lưỡng giai quân việt văn nhi vũ
奕葉簪紳子文孫 Dịch diệp trâm thân tử văn tôn
Nghĩa đen
Chuông và rìu, cả văn và võ song toàn
Nhiều đời con cháu có học vấn, đội mũ cài trâm
Dịch ý:
Hai ban triều đình, nắm quyền lớn, vừa văn vừa võ,
Nhiều đời con cháu nối tiếp, đều thuộc hàng trâm thân văn sĩ.
Lưỡng bậc quyền uy, song toàn văn võ
Nhiều đời con cháu, tiếp nối trâm anh
Giải thích: “鈞 quân” là cái chuông biểu tượng cho văn trị, “鉞 việt” là cái rìu lớn, biểu tượng quyền lực quân sự, võ trị. “奕葉 dịch diệp” là nối đời, “簪紳 trâm thân” là chỉ tầng lớp
danh gia, quý tộc, quan lại...
22. 王氏綠槐留遠蔭 Vương thị lục hoè lưu viễn ấm
竇家丹桂茁深枝 Đậu gia đan quế truật thâm chi
Dịch nghĩa:
Họ Vương rợp bóng hoè xanh, lưu ấm lành cho cháu con muôn thuở;
Nhà Đậu đâm chồi quế đỏ, vươn cành thẳm rạng tổ nghiệp nghìn năm.
綠槐 lục hòe: cây hòe xanh, cây hòe được dùng để chỉ các đại thần, tam công,
tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo). 丹桂
đan quế: cây quế vàng thẫm gần như đỏ. Hình ảnh Đan quế chỉ người có tài năng
xuất chúng, cũng chỉ người thi đậu cao. Mượn hình ảnh họ Vương và nhà họ Đậu nổi
danh thời xưa để ca ngợi cá nhân, gia đình cụ Nhữ Đình Toản
23. 戎幕馳驅清漢室 Nhung mạc trì khu thanh Hán thất
岩廊懋勉贊唐基 Nham lang mậu miễn tán Đường cơ
Dịch nghĩa:
Võ công ngoài trận mạc, giúp nhà Hán lập nghiệp lớn;
Văn tài chốn triều đình, giúp triều Đường xây nền thịnh trị.
Xông pha chiến địa, giúp Hán thanh bình cơ nghiệp lớn;
Cẩn trọng triều ban, cùng Đường gây dựng nghiệp nền cao
Câu đối nằm trong mô típ
dùng hình ảnh, nhân vật trong lịch sử để ám chỉ, ca ngợi người đương thời.
24. 岩廟當年希稷契 Nham miếu đương niên hi Tắc Tiết
都亭今日正疏韋 Đô đình kim nhật chính Sơ Vi
Dịch nghĩa:
Miếu đá năm xưa, ngưỡng vọng Tắc – Tiết hiền công;
Đình đô hôm nay, chính danh Sơ – Vi tiết tháo.
Dịch văn nhã, có liêm luật
câu đối:
Miếu điện năm xưa, nối gót Tắc - Tiết, tài năng phò quốc;
Đô đình hôm nay, noi gương Sơ - Vi, liêm chính giúp dân
Tắc, Tiết, Sơ, Vi là các
danh thần, trọng thần trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.
25. 龍虎榜中標姓字 Long hổ bảng trung tiêu tính tự
鳳凰池上演綸絲 Phượng hoàng trì thượng diễn luân ti
Dịch nghĩa:
Tên họ được xướng danh trên bảng Rồng Hổ (bảng vàng);
Trên hồ Phượng Hoàng, dải lụa ngự ban được tung ra (ẩn dụ về lễ sắc phong).
Long Hổ bảng ghi danh rạng họ,
Phượng Hoàng trì diễn chỉ ban ân.
26. 去漢肯高疏傅智 Khứ Hán khẳng cao Sơ Phó trí
安唐夫老晉公身 An Đường phu lão Tấn Công thân
Dịch nghĩa:
Lui khỏi nhà Hán, dám theo cái cao thượng của trí Sơ Phó;
Giữ yên triều Đường, thân là bậc lão thần xứng Tấn Công.
27. 梓里懸車和世澤 Tử lý huyền xa hòa thế trạch
槐堂耀錦想宗加 Hoè đường diệu cẩm tưởng tông gia
Dịch nghĩa:
Về làng cũ treo xe (nghỉ hưu), hòa hưởng ơn trạch của tổ tiên truyền lại
Nhà họ Hoè rực rỡ gấm vóc, tưởng nhớ công đức tổ tông ban thêm.
Dịch văn nhã, bỏ bớt điển
tích Trung Quốc:
Quê xưa: treo xe về trí sĩ, hòa hưởng phúc ấm tổ truyền
Nhà cũ: rạng gấm sáng đường họ, tưởng nhớ công ơn tổ tiên.
Về quê treo xe, vui an trí, hưởng phúc nhà xưa truyền hậu thế
Giữ đạo tổ tiên, rạng gấm vóc, nhớ ân tông tổ thấm gia phong.
Giải nghĩa một số từ: 梓里 tử lý: quê nhà, quê hương, nơi sinh ra; 懸車
huyền xa: treo xe, điển cố chỉ việc từ quan, về hưu; 和世澤 hòa thế trạch: thừa hưởng và hòa cùng ơn trạch của tổ tiên để lại;槐堂 hoè đường: nhà họ Hoè – cách chỉ nhà của văn thần, đại tộc, liên quan đến
điển “tam hoè” của quan lại thời xưa. “Tam hòe” được dùng để chỉ đại thần Tam
thái: thái sư, thái phó, thái bảo; 耀錦 diệu
cẩm: rực rỡ gấm vóc, chỉ sự vinh hiển; 想宗加 tưởng
tông gia: tưởng nhớ tổ tông, được tổ tiên phù hộ thêm phúc.
28. 昼錦豈偏闾里慶 Trú cẩm khởi thiên lư lý khánh
耆英實繫國家光 Kỳ anh thực hệ quốc gia quang
Dịch nghĩa:
Mặc áo gấm ban ngày, lẽ nào chỉ là niềm vui riêng của làng xóm;
Bậc kỳ lão thật là người gắn liền với sự vẻ vang của quốc gia.
Gấm quý ban ngày, chẳng phải riêng làng vui khánh hội;
Công cao tuổi thọ, xứng làm quốc sĩ rạng non sông.
29. 咸一英猷黃阁日 Hàm nhất anh do Hoàng các nhật
達三峻望綠堂辰 Đạt tam tuấn vọng Lục đường thần
Dịch nghĩa:
Cùng đồng lòng mưu kế lớn trong ngày sáng tại gác vàng;
Vượt ba đỉnh núi cao, mong ánh sao chiếu phủ đường xanh.
30. 瑞世耆渊三達里 Thụy thế kỳ uyên tam đạt lý,
名家清白四知心 Danh gia thanh bạch tứ tri tâm.
Dịch nghĩa:
Trong đời phúc thịnh, bậc hiền như vực sâu, thông đạt ba đường đạo lý;
Gia tộc nổi danh với lòng trong sạch, tâm giữ bốn điều biết.
Dịch có liêm luật câu đối:
Đời thịnh phúc, hiền sâu ba lối đạo;
Danh môn trong, sạch vẹn bốn điều tâm.
Dịch theo thể thơ lục bát:
Danh môn giữ đạo trong thanh,
Tâm bền bốn biết, dạ lành chẳng phai.
Giải nghĩa một số từ: “瑞世 thụy thế”: đời thịnh vượng, cát tường; “耆渊 kỳ
uyên”: người già, bậc lão thành, sâu sắc như vực thẳm - ẩn dụ cho trí tuệ thâm
sâu; “三達里 tam đạt lý”: ba điều thông đạt, có thể là tam đạt:
thông thiên, thông địa, thông nhân; hay tam đạt lý: đạo trời, đạo người, đạo vật;
“名家 danh gia”: gia đình danh tiếng; “清白 thanh bạch”: trong sạch, liêm khiết; “四知心 tứ
tri tâm”: bốn điều biết là điển cố nổi tiếng, bắt nguồn từ Hán Nho – nói rằng:
“Trời biết, Đất biết, Ta biết, Người biết” – ám chỉ lòng người dù giấu kín vẫn
không thoát khỏi thiên lý và lương tri