Họ Phạm, thôn Hoàng Xá và Đông Lĩnh, xã Quyết Thắng,
huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vốn gốc là họ Nhữ. Thủy tổ dòng họ theo văn bia
cổ ghi chép là Trạng Nguyên Nhữ Công Huân. Đây là một dòng họ lớn, phát đạt về
đinh – tài. Tại dòng họ, có hai văn bia cổ, một bia ở lăng mộ Trạng Nguyên Nhữ
Công Huân (bia mộ) và một ở nhà ông trưởng họ (bia gia phả).
Khảo cứu hai văn bia cổ của dòng họ
Phạm Nhữ.
1. Bia tại lăng mộ Trạng Nguyên Nhữ Công Huân
Vị trí: Lăng mộ Thủy tổ
Nhữ Công Huân, thôn Hoàng Xá, xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Tư liệu: Ảnh chụp và ghi chép trong
chuyến điền dã ngày 26/9/2020.
Năm lập bia: Năm Gia Long
thứ 3 (1804), lập khi tôn tạo mộ.
Chữ
Hán trên văn bia (các cột từ trái qua phải):
cột 1: 嘉隆叁年吉月日營築
cột 2: 我范族即古汝族 地靈人傑素稱
cột 3: 文雅科宦傳家猶在青河輿誌紳
cợt 4: 豪繼世生居黃舍名鄉自我
cột 5: 始祖前黎朝春試中狀元第一名 汝公勛先生
cột 6: 均子孫鄉飲三亭肆祀典世傳萬
cột 7: 古追思大德裝砌先墳億年香火
cột 8: 萬代享神以示不忘本云
cột 9: 黃舍東嶺二社范族奉祀
Phiên
âm:
Gia Long tam niên, cát nguyệt nhật,
doanh trúc
Ngã Phạm tộc, tức cổ Nhữ tộc, địa linh
nhân kiệt, tổ xưng
văn nhã, khoa hoạn truyền gia, do tại
Thanh Hà dư chí, thân
hào kế thế, sinh cư Hoàng Xá danh hương.
Tự ngã
Thủy tổ tiền Lê triều, xuân thí[1] trúng
Trạng nguyên đệ nhất danh Nhữ Công Huân tiên sinh.
Quân tử tôn hương ẩm tam đình, tứ tự
điển, thế truyền vạn
cổ. Truy tư đại đức, trang thế tiên
phần, ức niên hương hỏa,
vạn đại hưởng thần, dĩ thị bất vong bản
vân.
Hoàng Xá, Đông Lĩnh nhị xã, Phạm tộc
phụng tự.
Dịch:
Ngày
lành, tháng tốt, niên hiệu Gia Long thứ ba (1804), khởi dựng.
Họ
Phạm ta vốn là họ Nhữ xưa, ở vùng đất thiêng sinh người tài, xưa nay vẫn được
ca ngợi gia phong văn nhã, nối đời đỗ đạt làm quan, được ghi chép rõ trong
Thanh Hà dư chí. Các bậc sĩ phu, hào trưởng nối tiếp nhau qua nhiều đời sinh
sống tại danh hương Hoàng Xá, kể từ cụ Thủy tổ là Tiên sinh Nhữ Công Huân đỗ
Trạng Nguyên đệ nhất danh. Con cháu đều được dự lễ hương ẩm ở ba đình, mở rộng
điển lễ tế tự, truyền lại muôn đời.
Tưởng
nhớ đức lớn (của tổ tiên), tu sửa mồ mả tổ tiên, giũ gìn hương hỏa muôn vạn
năm, đời đời cúng tế để tỏ rõ đạo lý không quên nguồn cội vậy.
(Bia
này do) con cháu họ Phạm hai xã Hoàng Xá, Đông Lĩnh cung kính phụng thờ.
2. Bia “Phạm tộc gia phả 范族家譜”
Vị
trí: Tại sân vườn nhà ông Phạm Văn Dần – Trưởng họ, thôn Đông
Lĩnh, xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Tên bia: “范族家譜 Phạm tộc gia phả”
Năm lập bia: Ngày 05 tháng 10 năm Tự Đức thứ 13 (1860)
Người viết văn bia: Tư văn
trưởng Phạm Đức Tiến, Lý trưởng Nhưng Phạm Đình Lương
soạn.
Đặc điểm: Mặt trước tên: “范族家譜 Phạm tộc gia phả”; Mặt sau tên: “億年香火 Ức niên hương hỏa”; hai bên cạnh cũng có khắc chữ.
Trích phần
đầu của văn bia, mặt chính:
Chữ Hán
và phiên âm:
“范族家譜 Phạm tộc gia phả.
南策府青河縣東嶺社范族長族范廷昨, 本族范伯知, 范德進, 范廷提, 范登山, 范文鉢, 范阮定, 范廷樑, 范文寶, 范文創, 范文帳, 范廷粗, 范文慎, 范阮𥪝, 范廷諟, 范文鎮, 范文恆, 范文碩, 范文熒, 范文𠿿, 范文炎, 范文連, 范文嘏, 范文培, 范文枝, 范文𪤍, 范文井, 范文篆, 范文度, 范文宰, 范文仕, 范文霑, 范文平, 范文弟, 范文兄, 仝族上下等, 爲有立家譜碑記.
Nam
Sách phủ, Thanh Hà huyện, Đông Lĩnh xã, Phạm tộc trưởng tộc Phạm Đình Tạc; bổn tộc Phạm Bá Tri, Phạm Đức Tiến, Phạm Đình
Đề, Phạm Đăng Sơn, Phạm Văn Bát, Phạm Nguyễn Định, Phạm Đình Lương, Phạm Văn Bảo,
Phạm Văn Sáng, Phạm Văn Trướng, Phạm Đình Thô, Phạm Văn Thận, Phạm Nguyễn Trong, Phạm
Đình Thị, Phạm Văn Trấn, Phạm Văn Hằng, Phạm Văn Thạc, Phạm Văn Huỳnh, Phạm Văn
Ngợi, Phạm Văn Viêm, Phạm Văn Liên, Phạm Văn Hạ,
Phạm Văn Bồi, Phạm Văn Chi, Phạm Văn Nền, Phạm
Văn Tỉnh, Phạm Văn Triện, Phạm Văn Độ, Phạm Văn Tể, Phạm Văn Sĩ, Phạm Văn
Chiêm, Phạm Văn Bình, Phạm Văn Đệ, Phạm Văn Huynh; đồng tộc thượng hạ đẳng, vị hữu lập gia phả bi ký.
嘗謂:天地生人,祖考積慶,自有社有人,其來久矣.
茲本族敬寫先祖,追古及今,爰刻于石,以壽其傳.
所有爵齒,安塟某處,忌某日,例計于左:
Thường vị:
thiên địa sinh nhân, tổ khảo tích khánh, tự hữu xã hữu nhân, kỳ lai cửu hỹ.
Tư bản tộc
kính tả tiên tổ, truy cổ cập kim, viên khắc vu thạch, dĩ thọ kỳ truyền.
Sở hữu
tước xỉ, an táng mỗ xứ, kỵ mỗ nhật, liệt kê vu tả:
先祖前春試狀元第一名汝公勛先生,塟在黃舍,生三人均為三
顯高高祖考前錦衣衛力士,都指揮使司都指揮詹事,范公字敦直先生,在黄舍.
范公字福賢先生,妣阮氏号慈善,在陵花。
前先祖范公字福生号道正 諱謀 享八十歲塟在同雷處, 忌六月二十九日,生五子 福壽福實使才,妣莫氏号妙智 塟在田同固處,忌十二月十五日,次室阮氏号慈順。
Tiên tổ
tiền xuân thí Trạng nguyên Đệ nhất danh Nhữ Công Huân tiên sinh, táng tại Hoàng
Xá, sinh tam nhân quân vi tam đình.
Hiển Cao
cao tổ khảo tiền Cẩm y vệ Lực sĩ, Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy Thiêm sự, Phạm
công, tự Đôn Trực tiên sinh, tại Hoàng Xá.
Phạm công
tự Phúc Hiền tiên sinh; tỷ Nguyễn thị, hiệu Từ Thiện, tại Lăng Hoa;
Tiền tiên
tổ Phạm công, tự Phúc Sinh hiệu Đạo Chính, húy Mưu,
hưởng bát thập tuế, táng tại
Đồng Lôi xứ, kỵ lục nguyệt nhị thập cửu nhật. Sinh ngũ tử: Phúc Thọ,
Phúc Thực, Sử Tài; tỷ Mạc thị, hiệu Diệu Trí, táng tại điền Đồng Cố xứ, kỵ thập nhị nguyệt thập ngũ nhật; thứ thất
Nguyễn thị, hiệu Từ Thuận”.
Dịch
nghĩa:
“Gia phả
họ Phạm
Họ Phạm
ở xã Đông Lĩnh, huyện Thanh Hà, phủ Nam Sách, gồm trưởng tộc Phạm Đình Tạc,
cùng các vị trong bổn tộc như: Phạm
Bá Tri, Phạm Đức Tiến, Phạm Đình Đề, Phạm Đăng Sơn, Phạm Văn Bát, Phạm Nguyễn Định,
Phạm Đình Lương, Phạm Văn Bảo, Phạm Văn Sáng, Phạm Văn Trướng, Phạm Đình Thô,
Phạm Văn Thận, Phạm Nguyễn Trong, Phạm
Đình Thị, Phạm Văn Trấn, Phạm Văn Hằng, Phạm Văn Thạc, Phạm Văn Huỳnh, Phạm Văn
Ngợi, Phạm Văn Viêm, Phạm Văn Liên, Phạm Văn
Hạ, Phạm Văn Bồi, Phạm Văn Chi, Phạm Văn Nền, Phạm
Văn Tỉnh, Phạm Văn Triện, Phạm Văn Độ, Phạm Văn Tể, Phạm Văn Sĩ, Phạm Văn
Chiêm, Phạm Văn Bình, Phạm Văn Đệ, Phạm Văn Huynh, cùng toàn thể dòng họ, trên dưới đồng lòng dựng bia
ghi gia phả.
Xưa vẫn
nói: Trời đất sinh ra con người, tổ tiên tích tụ phúc lành; từ khi có làng có
người đến nay, việc ấy đã rất lâu đời.
Nay họ
ta kính cẩn ghi chép tổ tiên, truy từ
xưa đến nay, bèn khắc vào bia đá để
lưu truyền lâu dài.
Còn về chức tước, tuổi tác, nơi an táng
và ngày kỵ, đều theo lệ ghi rõ ở đây:
Tiên
tổ đời trước là ngài Nhữ Công Huân, thi đỗ Trạng nguyên Đệ nhất danh, an táng tại Hoàng Xá, sinh
ba người đều là tam đình.
Hiển
cao cao tổ khảo, từng giữ chức Lực sĩ Cẩm y vệ, chức Đô Chỉ huy Thiêm sự, Phạm công
tự Đôn Trực, ở Hoàng Xá.
Phạm
công tự Phúc Hiền, vợ họ Nguyễn, hiệu Từ Thiện, an táng tại Lăng Hoa.
Tiền
tiên tổ Phạm công tự Phúc Sinh, hiệu Đạo Chính, huý Mưu, thọ tám mươi tuổi, an
táng tại Đồng Lôi, kỵ ngày 29 tháng 6; sinh năm con; vợ cả họ Mạc hiệu Diệu
Trí, an táng tại Đồng Cố, kỵ ngày 15 tháng chạp; vợ thứ họ Nguyễn hiệu Từ Thuận”.
Đây là
hai văn bia cổ, có giá trị. Văn bia đã ghi lại về gốc gác dòng họ Phạm hai thôn
Hoàng Xá, Đông Lĩnh, xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương là họ Nhữ.
Cụ Thủy tổ dòng họ là Trạng nguyên Nhữ Công Huân. Văn bia cũng ghi lại thế thứ
nhiều đời, gồm đầy đủ họ tên cụ ông, cụ bà, phân các chi, nhánh, các chức tước
(nếu có), ngày kị... đó là những thông tin rất quý giá lưu lại hậu thế muôn
đòi.
Khảo cứu
về Trạng nguyên Nhữ Công Huân:
Các tài
liệu ghi chép về khoa cử thời phong kiến, chưa tìm được người có tên Nhữ Công
Huân đỗ trạng nguyên. Xin được kiến giải như sau:
Nhữ Công
Huân là tên thụy: Ngày xưa, mọi người
thường có nhiều tên, như: tên húy (do cha mẹ đặt khi sinh ra); tên tự
(tên chữ) khi trưởng thành, thầy, cha, hoặc do chính bản thân tự đặt cho
minh, có nhiều người đổi nhiều lần tên tự; tên hiệu, biệt hiệu, tự đặt,
và cũng thường được thay đổi nhiều lần, tên hiệu thường được bản thân đặt theo
chí hướng, hoàn cảnh sống trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời; tên thụy là
tên sau khi mất, con cháu tôi xưng một cái tên cho người đã mất mang tính kính
trọng, đề cao. Chữ “huân 勛” nghĩa là: công
tích, công lao, “công huân” là mang hàm ý tôn, vinh danh công tích, công lao lớn,
nên khả năng rất cao là tên thụy, bởi một
người lấy chữ “công huân” để đặt làm tên tự, hay hiệu là rất thấp, do người xưa
có lòng tự trọng rất cao.
Cụ Thủy
tổ chắc chắn là người đỗ đạt rất cao:
Cũng với lòng tự trọng rất cao, thời xưa, con cháu không dễ dãi gán danh hiệu rất
cao sang, mà lại ở lĩnh vực “chữ nghĩa” cho bề trên, khi không có cơ sở. Do đó,
có thể nhận định, cụ Thủy tổ họ Phạm Nhữ chắc chắn đã người đỗ đạt rất cao, đỗ
đệ nhất giáp.
Cụ Thủy
tổ Nhữ Công Huân không sinh ra và lớn lên ở huyện Thanh Hà: Xưa kia, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ, đệ nhất danh, tức Trạng
Nguyên là một kỳ tích, người đỗ luôn là người đã rất nổi tiếng hay chữ trước
khi đỗ đạt. Người đỗ được ghi vào bảng vàng, được vua ban yến tiệc, được vinh
quy bái tổ... là vinh dự rất lớn của cá nhân, dòng họ và quê hương. Nên một trạng
nguyên không được ghi chép trong các sử liệu về khoa cử là điều rất khó xảy ra.
Vùng quê Thanh Hà không có các lưu truyền về một vị sĩ tử họ Nhữ đỗ đạt Trạng
nguyên là bởi Nhữ Công Huân không sinh ra và lớn lên ở nơi này. Ông là người
nơi khác, đã đỗ đạt, đã làm quan, khi về già mới đưa gia đình về Thanh Hà định
cư.
Trạng
nguyên Nhữ Công Huân chính là Đệ nhất giáp Nhữ Trọng Thai?:
Trong
các nhà khoa bảng họ Nhữ, người đỗ Đình nguyên (đỗ đầu kỳ thi Đình), Đệ nhất
giáp chỉ có duy nhất ông Nhữ Trọng Thai (1696 - ?). Nhữ Trọng Thai nổi tiếng
hay chữ, đến mức ông còn tự tuyên bố sẽ đỗ Trạng nguyên trước khi tham gia khoa
thi, và ông đã đỗ Đình nguyên thật! Khoa thi đó, nhà vua không lấy Trạng
nguyên, dù ông là người đỗ Đình nguyên, Đệ nhất giáp. Ông được ban học vị: Đệ
nhất giáp tiến sĩ, Đệ nhị danh, tức Bảng nhãn (tam khôi khoa thi đó không có Trạng
nguyên và Thám hoa).
Cuốn Hoạch
Trạch Nhữ tộc phả bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm có phần ghi chép về Bảng
nhãn Nhữ Trọng Thai: “Đỗ Đệ nhất
giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị danh (bảng nhãn) khoa Quý Sửu (1733), giữ chức Hiến
sát sứ ty ở Thái Nguyên thuộc Mậu Lâm bộ, tự Nhã Hành, hiệu Đôn Thạc, tên húy
là Thai, Phương. Sinh năm Bính Tý (1696), giờ Canh Tý (23h–1h đêm), ngày 19
tháng 10”. Nhữ Trọng Thai có hai con
trai, con cả di cư đi đâu không rõ, con thứ là Nhữ Bá Thự, đỗ Hương cống, làm
tri phủ Lâm Thao. Tộc phả không có bất cứ ghi chép nào về nơi sinh sống cuối đời,
hay mồ mả ở đâu?
Quan lộ
của Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai không được suôn sẻ, năm, Việt sử thông giám cương
mục chép: “Tháng
giêng năm Tân Dậu, niên hiệu cảnh hưng thứ 2 (1741)… Thanh thế Nguyễn Tuyển rất
lừng lẫy. triều đình sai Đặng Đình Luận làm đốc lãnh thương đạo Hải Dương, Trần
Trọng Liêu và Nhữ Trọng Thai giữ chức hiệp đồng đem quân đi đánh. Bọn này tiến
quân ở Đông Triều. Tuyển sai người xin hàng. Đình Luận tin lời, không phòng bị.
Đêm đến Tuyển đánh úp doanh trại. Đình Luận, Trọng Liêu và Trọng Thai bị thua,
bọn Đình Luận trốn về, đều bị lột hết quan chức và tước phẩm”. Tiến sĩ Nhữ Đình
Toản có soạn Bài từ kèm lời dẫn tặng
anh Nhữ Thai khi về trí sĩ (汝台兄致仕詞并引 Nhữ Thai huynh trí sĩ
từ tịnh dẫn) – Bài từ đã đề cập việc ông hai lần ra làm quan với nhiều thành tựu
sáng chói cả văn và võ, về già nhiều lần xin về nghỉ và được vua chấp thuận.
Từ các dẫn
chiếu, lập luận như trên, căn cứ vào số đời truyền nối đến nay ở dòng họ Phạm
Nhữ, cá nhân tôi có niềm tin rằng: Trạng nguyên Nhữ Công Huân chính là Đệ nhất
giáp Nhữ Trọng Thai, Nhữ Công Huân là tên thụy. Khi về trí sĩ, ông sống tại xã
Hoàng Xá (Thanh Hà) và mất tại đó. Cuộc đời ông nhiều chìm nổi, cùng với những
biến động xã hội thời vua Lê Hiển Tông, ông chắc cũng muốn lặng lẽ sống nhàn những
năm cuối đời như một ông già bình thường. Cũng có thể ông có một bà thứ thất (vợ
lẽ) ở Hoàng Xá, do những cách trở mà dòng họ Nhữ Hoạch Trạch, quê hương của
ông, khi ghi chép tộc phả đã không biết đến.
Thân thế,
sự nghiệp của Trạng nguyên Nhữ Công Huân cần tiếp tục được khảo cứu thêm.
Tài liệu
tham khảo bài viết này:
-
Hội thảo
khoa học di tích văn bia dòng họ Nhữ - Phạm tại xã Quyết Thắng, Thành phố Hải
Dương, năm 2024 – Hội sử học Hải Dương – UBND xã Quyết Thắng.
-
Gia phả
họ Phạm gốc Nhữ, thôn Hoàng Xá – Đông Lĩnh, xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh
Hải Dương – Tăng Bá Hoành sưu tầm, dịch, chú giải.
- Gia phả dòng họ Phạm gốc Nhữ, xã Quyết Thắng – Thanh Hà – Hải Dương
[1]
Xuân thí: Các kỳ thi Hương, thi Hội
thường được tổ chức vào mùa thu, mùa đông (cuối năm trước). Những sĩ tử đã đỗ
thi Hội, sang đầu xuân năm mới sẽ vào sân triều đình để thi Đình, thi Đình để
phân những người đã đỗ thi Hội ra ba loại là: Đệ nhất giáp (tam khôi), Đệ nhị
giáp (Hoàng giáp), và Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Xuân thí là lối nói
(viết) văn vẻ chỉ kỳ thi Đình.



