DANH SĨ NHỮ BÁ SĨ VÀ DÒNG HỌ NHỮ HOẰNG HÓA, THANH HÓA
Dòng họ Nhữ huyện Hoằng Hóa, tỉnh Nhữ tỉnh đã có lịch sử trên 500. Theo gia phả, cụ Thủy tổ Nhữ Viên Hiền sinh khoảng năm 1515. Nguồn gốc dòng họ từ Hải Dương vào làng Cát, xã Hoằng Cát. Đây là giai đoạn xảy ra chiến tranh Nam – Bắc triều, Nguyễn Kim, sau đó là Trịnh Kiểm giúp khôi phục nhà Lê (gọi là Nam triều), chiếm đất từ Thanh Hóa trở vào chống lại triều đình nhà Mạc (gọi là Bắc triều). Ông Nhữ Viên Hiền là một vị quan của Cẩm y vệ, chức Đô thống chế, hay Đô chỉ huy sứ - tức đứng đầu Cẩm y vệ. Thời Lê Trung Hưng, Cẩm y vệ là một phần của vệ sĩ nội điện, đóng vai trò bảo vệ an ninh trực tiếp cho vua. Đô chỉ huy tước nhị phẩm. Đời 2 là Nhữ Viên Pháp, sinh ngày 30/4, khoảng năm 1535, được ấm phong Quan viên tử. Đến đời 5 là Nhữ Phúc Thiện, sinh vào đời Lê Anh Tông (?), chúa Trịnh Tùng (1550 – 1623), Tam phẩm quan viên(?). Đến đời thứ 6, dòng họ bắt đầu phân các chi.
Thời
Lê Trịnh, họ Nhữ Hoằng Hóa, Thanh Hóa có nhiều người làm quan võ, làm trong Cẩm
y vệ do những người vùng Thanh Nghệ khi đó được các chúa Trịnh tin tưởng, dùng
làm quân nội điện. Như: ông Nhữ Văn Vịnh (Viên Đức), sinh tháng 11 năm Hoằng
Định 13 (1612), mất 27/8 năm Canh Thân (1680), làm Chỉ huy tướng quân, trong
Cẩm y vệ, tước Đặng Vũ hầu, hàm tam phẩm. Thời chúa Trịnh Tạc (1657 – 1682),
ông Nhữ Văn Vịnh đã soạn Phả diễn ca (chữ Nôm); nhiều người làm đội trưởng
trong quân Cẩm y vệ, như Nhữ Văn Vận, Nhữ Văn Nho đều được phong tước bá, Nhữ
Văn Thức được phong tước nam v.v... Nhiều người làm quan văn cấp trung - thấp
như: Trung lang; Ngoại lang.
Sang
thời Nguyễn, dòng họ có nhiều người đỗ hương cống (cử nhân[1]), thi
Hội đỗ đến tam trường (sau này gọi là Phó bảng) như: Nhữ Đình An (1798 – 1827)
đỗ hương cống năm Kỷ Mão (1819); Nhữ Bá Sĩ (1788 – 1868) đỗ cử nhân năm Tân Tị
(1821); Nhữ Đình Tố (1800 – 1843) đỗ cử nhân năm Ất Dậu (1825); Nhữ Dĩ Huyến
(1829 – 1859) đỗ cử nhân năm Ất Mão (1855); Nhữ Mộng Đao (1835 – 1872) đỗ cử
nhân năm Canh Ngọ (1870); Nhữ Duy Cơ (1856 – 1898) đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ
(1894)... Ba anh em ruột Nhữ Bá Sĩ, hai con trai ông, rồi cháu nội ông đều đỗ
cử nhân, quả là một thành tựu hiếm có thời Nguyễn.
Danh
sĩ Nhữ Bá Sĩ – Ba lần dâng kế sách đánh giặc Tây
Ông tự là Nguyễn Lập, hiệu Đạm Trai, là hậu duệ đời 12 của dòng
họ Nhữ Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Thủy tổ là Nhữ Viên Hiền. Là học trò tiến sĩ Phan Bảo Định, người Hà Tĩnh. Ông
đỗ cử nhân năm Nhâm Ngọ (1822), thi hội trúng Tam trường
(sau này gọi là Phó bảng), làm quan Tri
huyện, viên ngoại lang, thăng Đốc học Thanh hoá.
Năm 1830, ông bị vu cáo, phải cách chức, kết án trảm
giam hậu[2],
rồi được thả. Năm 1833, ông phải đi hiệu lực Ở Quảng Đông (Trung Quốc), về nước
được phục hồi chúc vụ bổ làm Huấn đạo huyện An Lạc, rồi giữ quyền chức Đốc học
tỉnh Sơn Tây. Ít lâu sau ông cáo bệnh xin hưu, rồi
mở trường dạy học tại quê nhà.
Từ bỏ làm quan, nhưng ông vẫn quan tâm đến vận mệnh nước nhà. Giặc Pháp xâm lược nước ta, ông liên tục dâng sớ lên vua Tự Đức trình kế sách đánh giặc, không chủ hòa. Năm 1860, là tờ sớ Tây bất khả hòa (không thể giảng hòa với Tây được); năm 1864, là bài sớ nổi tiếng: Tĩnh dương tam sách (3 sách lược đánh giặc Tây dương) dài đến mấy vạn chữ. Vua Tự Đức đã phê vào tờ tấu: “Người này tuổi đã cao rồi, đáng tiếc thay!”. Năm 1865, ông đã 78 tuổi, đã yêu cầu con cháu võng vào Nghệ An để bàn việc đánh giặc tây với các sĩ phu tỉnh bạn, việc chưa xong thì ông mất.
Người
thầy đạo cao, đức trọng:
Biết Nhữ Bá Sĩ là người có tài đức, triều
đình nhà Nguyễn muốn trọng dụng lại, nên đã ba lần vời ông làm quan
nhưng ông vẫn từ chối. Mãi đến năm 1854, Nhữ Bá Sĩ mới ra nhận chức Hàn
Lâm trước tác, rồi Đốc học Thanh Hóa. Ở đây, ông phụng chỉ làm sách Thanh
Hóa tỉnh chí. Khi sách làm xong, ông lại xin về hưu, tiếp tục việc dạy học.
Nhữ
Bá Sĩ là
một nhà văn,
nhà
giáo đạo cao, đức trọng. Theo các ghi chép: Nhà ông ở là một thư viện lớn, luôn luôn có
người ghi chép, bảo quản. Ông thu góp được nhiều sách tìm mua khắp trong, ngoài
nước. Học trò của ông
nhiều người đỗ cao. Hoàng Vỹ làm quan đến chức thượng thư bộ Lễ, xưa từng theo học thầy Bá
Sĩ, năm Mậu Tuất (1898), niên hiệu Thành Thái đã viết văn bia “Nhữ Đạm Trai tiên sinh bi” với lời lẽ kính trọng:
“...
xin kính cần ghi khắc vào bia mong
tỏ chút lòng ngóng trông núi cao đạo cả... Theo lời cha dạy, thầy chăm học từ nhỏ, trừ lúc bệnh
nặng, tay không khi nào rời sách...
Việc dạy hai em Thiệu Trai (Đình An),
Hòe Trai (Đình Tố) càngcông
phu khó nhọc. Hai ông đều đậu cử nhân, khoa Kỷ Mão và Ất Dậu. Năm Tân Tỵ thầy đậu thi hương,
năm sau Nhâm Ngọ đậu tiến sĩ á tuyển. Vậy là cả ba anh em lần lượt nổi danh
khoa giáp, họ Nhữ trở nên tiếng tăm. Cha mẹ thấy được đến đáp công lao vậy!
...Thầy viết nhiều sách: Dịch học giải thuyết, Thái cực đổ thuyết, Thanh hóa tỉnh chí, Nghi Am Biệt Lục... tất cả 17 bộ, khi cánh chim bay mỏi, nghiện ngầm lí số để hết tâm lực mà có... Học trò của Thầy rất đông, nổi tiếng nhất có các vị: Thám hoa Mai AnhTuấn, ánh sát Lạng Sơn, bảng nhãn Phạm Thanh làm tham chi bộ lại, Trưng quân cử nhân Đỗ Xuân Cát... số thành đạt rất nhiều... Hai con trai Thầy lần lượt đậu cử nhân và giờ đây cháu nội Duy Cơ lại làm rạng rỡ cho gia tộc, đúng là công đức giáo hóa của thầy để lại vậy!”
Theo GS sử học Đinh
Xuân Lâm và Trương Hữu Quỳnh (sách Việt
Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa): Nhữ Bá Sĩ là một thầy giáo có uy tín. Trường học của
ông bên bờ sông Nghi, nên gọi là Nghi Am. Ông soạn cuốn Nghi Am học
thức nêu rõ điều lệ, thể thức thầy trò. Nhiều sách của ông có tính chất
giáo khoa được học sinh sử dụng như Đạm Trai thi khoá,Vĩnh tự bát
pháp (tám cách viết chân lấy chữ "vĩnh” mà phân tích). Ông rất tôn
trọng học sinh. Sách Phi điều nguyên âm của ông có một số ý kiến về
lí luận văn học. Ông cũng viết một số truyện kí lịch sử trong đó có Truyện
Triệu Ẩu. Ông còn là tác giả tạp Việt sử tam bách vịnh gồm 308 bài
thơ vịnh sử từ Hùng Vương đến sau này. Ông phê phán các tác giả Trung Quốc có
tư tưởng nước lớn, coi thường văn hiến nước ta”.
Trong sách “Từ điển
văn học”, tiến sĩ Phạm Tú Châu đã viết về ông như sau: Nhữ Bá Sĩ học rộng biết
nhiều, có hoài bão lớn, có tinh thần dân tộc cao... Với số lượng tác phẩm có
nhiều đóng góp về nội dung và thể loại, ông xứng đáng được coi là một nhà văn,
nhà thơ có tầm cỡ ở thế kỷ XIX.
Năm Đinh Mão 1867 ông mất, thọ 80 tuổi.
Một số tác phẩm của
ông:
- Dịch hệ giai thuyết
- Việt sư tam bách vịnh
- Việt hành tạp thảo
- Nghi âm biết lục
- Đạm Trai quan nghi tập
- Phi điểu nguyên âm
- Đại học đồ thuyết
- Thanh Hoá tích chí
- Nghi âm học thức
- Đạm Trai thi văn tập
- Nghi Am hàn thương…
Ngoài ra, ông có viết bài bình dẫn truyện Quân trung
của Nguyễn Chu Kiều, năm 1834.

