KHẢO
CỨU VĂN BIA GIA PHẢ HỌ NHỮ TÊ QUẢ - BỐI KHÊ
Dòng họ Nhữ thôn Tê Quả, thôn Bối Khê xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội đã định cư, lập nghiệp ở thôn Tê Quả, thôn Bối Khê xã Tam Hưng được xấp xỉ 250 năm. Tính từ cụ Thủy tổ lập nghiệp, đến nay đã truyền nối được ... đời. Dòng họ có nhiều người thành danh như: ông Nhữ Đình Nguyên là nghệ sĩ ưu tú, chuyên hóa trang đóng vai Bác Hồ trên sân khấu, con gái là Nhữ Hoa Kim Ngân là Tiến sĩ vật lý, hiện sống làm việc ở Ba Lan, là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên và duy nhất đến nay được Tổng thống Ba Lan phong tặng Giáo sư cấp nhà nước, các người con khác đều là giảng viên đại học. Dòng họ còn có năm người khác đạt học vị tiến sĩ, có nhiều thành tựu trong khoa học, giáo dục, nổi tiếng như Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sỹ ưu tú Nhữ Đình Sơn (Viện 103), có Thiếu tướng, Tiến sỹ khoa học công an nhân dân Nhữ Thị Minh Nguyệt v.v...
Khảo
cứu văn bia gia phả họ Nhữ xã Tam Hưng:
Vị trí và đặc điểm văn bia: Hiện
nay, bia dựng tại Nhà thờ họ Nhữ - thôn Tê Quả, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai,
thành phố Hà Nội. Bia không có tên, hình dẹt, hai mặt, kích thước xấp xỉ 60x80
cm, mặt chính chữ Hán khắc khi lập bia, mặt sau có chữ Quốc ngữ mới được khắc bổ
sung.
Năm lập bia và người soạn: Bia
dựng năm 1952. Bia ghi: “Bản ghi của Tằng tổ (cụ) thi (Hương) đỗ tam trường Nhữ
công tự Phúc Luận” – tức khắc theo các ghi chép do của ông Nhữ Phúc Luận để lại.
Hiện vật, thác bản và bản dịch:
Bia còn nguyên vẹn, chữ rõ. Thác bản do ông Nhữ Đình Văn dập ngày 15/3/2026. Bản
dịch của ông Nhữ Đình Văn.
Tóm tắt nội dung văn bia: Chép
gia phả dòng họ Nhữ thôn Tê Quả và Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành
phố Hà Nội. Dòng họ có nguồn gốc (là một nhánh) từ họ Nhữ xã Lỗi Dương – xã Hoạch
Trạch, thuộc huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay là thôn Sồi Cầu, thôn Hoạch Trạch,
xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) di cư về Tê Quả, Tam Hưng khoảng
cuối thế kỷ XVIII. Bia ghi vắn tắt tiểu sử các bậc tiên tổ ở Lỗi Dương – Hoạch
Trạch. Về cụ Thủy tổ, có công khai lập ra dòng họ Nhữ xã Tam Hưng, bia không
ghi chép tiểu sử, chỉ chép tên hiệu là Phúc Chính, nên chưa thể xác định cụ thuộc
chi, phái, nhánh nào của dòng họ quê gốc. Căn cứ thời điểm cụ về lập nghiệp ở
Tê Quả, có thể suy đoán cụ là hậu duệ đời thứ 11 của họ Nhữ Hoạch Trạch. Bia
cũng ghi chép một số đời đầu của dòng họ (là con cháu cụ Nhữ Phúc Chính) và quá
trình tạo lập từ đường, lập văn bia.
Chữ Hán:
延世澤 其有關於庭訓豈小云乎[1]
丙[2]辰科第三甲進士出身特進金紫榮祿大夫入侍參從刑部左侍郎播澤侯汝尚真[3]
內祖世系貫耒[4]陽社東村
二世祖字玄明 葬在耒陽社 𡏢官処 祖妣阮[5]氏 号慈行
三世祖[6]歷任長安[7]北河二府知府奉頒[8]王傳公端義子汝相公字淡軒葬耒陽社瑪放処 祖妣阮氏号莊順
四世祖膠水縣知縣汝相公字善性葬學村庙前庭 祖妣周氏号淑幸
五世祖第一男員子即吾支也 次男侍內文聀歷任良才清河二縣知縣文壽子汝相公 字雅直 葬瑪放 妣范慈德
六世祖処士封贈特進金紫榮祿大夫太原処賛治承政使司承政使汝相公 諱梁 字文毅 号真通 妣周淑節
七世祖黎朝賜甲辰科第三甲同進士出身礼部都给事中封弘信大夫太常寺卿加贈嘉行大夫部侍郎再加贈特進金紫荣祿大夫御史臺都御史蓮溪伯再加贈工部尚書蓮溪侯汝相公諱弄号介軒 葬瑪放処. 祖妣号慈端葬裴舍社
八世祖賜庚申科進士光祿大夫陪從右侍郎以有政術資望言論風凌陞御史臺副都御史歴授刑部尚書壽岳子後以訓子登科贈礼部尚書少保 太保太傳壽郡公柱國上將秩汝相公諱賢奉賜諡通俊 葬學村蓮花処. 祖嫡妣武氏諱朗号端厚葬學村祖庭処 次妣林氏諱然号慈真[9]
祖原發蒦江派分犀土歷叙源流世次九葉
迄于茲別成廟宇肅雍
千秋不朽爱聞犔見億萬年俎豆蒸嘗 千百載衣冠奉祀事
鼻祖号福正 生二支 甲支先列字福康貝溪社乙支先列字福良甲支分派先少福量 乙支先少福遵
甲支列祖通公生二支甲又少祖福評公生四支少祖福保公已分下派甲支高祖字福権生三 支長正総字... 乙支高祖字福鐄生二支長汝都丙攴高祖字福昆先生汝门生忌二月初一日丁支高袓号福直諱立冬生五支長八品曾祖福用
皇朝嗣德三年少祖該縂(總)賞授八品汝廷貴字福平出心產两恒創立祀址其有石碑仍永世苔漫难於考究
迺於壬辰年玄孫汝南風貝溪乙支汝奉叶与本族會集換刻 石碑詳銘世次俾後世子孫貝此刻久而奮起爽愷祀堂日以增光尊崇於千萬世紀云耳
曾祖試中三塲汝公字福論苯掑
Phiên âm:
Diên thế trạch, kỳ hữu quan ư đình huấn
khởi tiểu vân hồ.
Bính Thìn khoa, Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất
thân, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Nhập thị Tham tụng, Hình bộ Tả thị
lang, Bá Trạch hầu Nhữ Thượng Chân.
Nội tổ thế hệ quán Lỗi Dương xã Đông
thôn.
Nhị thế tổ tự Huyền Minh, táng tại Lỗi
Dương xã, Mả Quan xứ. Tổ tỷ Nguyễn thị, hiệu Từ Hành.
Tam thế tổ lịch nhậm Trường An, Bắc Hà
nhị phủ tri phủ, phụng ban Vương truyền công Đoan Nghĩa tử Nhữ tướng công tự Đạm
Hiên, táng Lỗi Dương xã Mã Phóng xứ. Tổ tỷ Nguyễn thị, hiệu Trang Thuận.
Tứ thế tổ Giao Thủy huyện, tri huyện
Nhữ tướng công tự Thiện Tính, táng Học thôn miếu tiền đình. Tổ tỷ Chu thị, hiệu
Thục Hạnh.
Ngũ thế tổ, đệ nhất nam viên tử tức
ngô chi dã; thứ nam Thị nội văn chức, lịch nhậm Lương Tài, Thanh Hà nhị huyện
tri huyện. Văn Thọ tử Nhữ tướng công tự Nhã Trực, táng Mả Phóng. Tỷ Phạm Từ Đức.
Lục thế tổ Xử sĩ, phong tặng Đặc tiến
Kim tử Vinh lộc đại phu, Thái Nguyên xứ Tán trị, Thừa chính sứ ty Thừa chính sứ
Nhữ tướng công, húy Lương, tự Văn Nghị, hiệu Chân Thông. Tỷ Chu Thục Tiết.
Thất thế tổ Lê triều tứ Giáp Thìn khoa
đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Lễ bộ Đô cấp sự trung, phong Hoằng Tín đại
phu, Thái Thường tự khanh; gia tặng Gia Hành đại phu Bộ thị lang; tái gia tặng
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Ngự sử đài Đô ngự sử Liên Khê bá; tái gia tặng
Công bộ Thượng thư Liên Khê hầu Nhữ tướng công, húy Lộng, hiệu Giới Hiên; táng
Mã Phóng xứ. Tổ tỷ hiệu Từ Đoan táng Bùi Xá xã.
Bát thế tổ tứ Canh Thân khoa tiến sĩ,
Quang lộc đại phu, Bồi tòng Hữu thị lang; dĩ hữu chính thuật tư vọng ngôn luận
phong lăng, thăng Ngự sử đài Phó đô ngự sử, lịch thụ Hình bộ Thượng thư, Thọ Nhạc
tử; hậu dĩ huấn tử đăng khoa tặng Lễ bộ Thượng thư, Thiếu bảo, Thái bảo, Thái
phó, Thọ quận công, Trụ quốc Thượng tướng trật Nhữ tướng công, húy Hiền, phụng
tứ thụy Thông Tuấn; táng Học thôn Liên Hoa xứ. Tổ đích tỷ Vũ thị húy Lãng hiệu
Đoan Hậu táng Học thôn, Tổ Đình xứ; thứ tỷ Lâm thị húy Nhiên hiệu Từ Chân.
Tổ nguyên phát Hoạch Giang, phái phân
Tê thổ, lịch tự nguyên lưu, thế thứ cửu hệ diệp.
Hất vu tư biệt thành miếu vũ túc ung.
Thiên thu bất hủ, ái văn khí kiến, ức
vạn niên tộ đậu chưng thường, thiên bách tải y quan phụng tự sự.
Tị tổ hiệu Phúc Chính, sinh nhị chi.
Giáp chi tiên liệt tự Phúc Khang;
Bối Khê xã, Ất chi tiên liệt tự Phúc
Lương.
Giáp chi phân phái tiên thiếu Phúc Lượng.
Ất chi tiên thiếu Phúc Tuân.
Giáp chi liệt tổ (Phúc) Thông công
sinh nhị chi;
Giáp hựu thiếu tổ Phúc Bình công sinh
tứ chi; thiếu tổ Phúc Bảo công dĩ phân hạ phái; Giáp chi cao tổ tự Phúc Quyền
sinh tam chi, trưởng Chánh tổng tự…; Ất chi Cao tổ tự Phúc Hoành sinh nhị chi,
trưởng Nhữ Đô; Bính chi Cao tổ tự Phúc Côn tiên sinh Nhữ Môn Sinh, kỵ nhị nguyệt
sơ nhất nhật; Đinh chi Cao tổ hiệu Phúc Trực, huý Lập Đông, sinh ngũ chi, trưởng
Bát phẩm Tằng tổ Phúc Dụng.
Hoàng triều Tự Đức tam niên, thiếu tổ
Cai Tổng thưởng thụ bát phẩm Nhữ Đình Quý tự Phúc Bình, xuất tâm sản lưỡng hằng
sáng lập tự chỉ. Kỳ hữu thạch bi, nhưng vĩnh thế đài mạn, nan ư khảo cứu.
Nãi ư Nhâm Thìn niên, huyền tôn Nhữ
Nam Phong, Bối Khê Ất chi Nhữ Phụng Diệp dữ bản tộc hội tập hoán khắc thạch bi,
tường minh thế thứ, tỉ hậu thế tử tôn. Bối thử khắc cửu nhi phấn khởi sảng khải,
tự đường nhật dĩ tăng quang, tôn sùng ư thiên vạn thế kỷ vân nhĩ.
Tằng
tổ thí trúng tam trường, Nhữ công tự Phúc Luận bản ghi.
Dịch nghĩa:
Ơn đức truyền đời, có liên quan đến
gia huấn trong nhà há phải nhỏ sao[10]!
Khoa thi Bính Thìn, đỗ Đệ tam giáp Tiến
sĩ xuất thân, được phong (hàm tản quan là) Đặc tiến Kim tử, Vinh lộc đại phu,
(chức) Nhập thị Tham tụng[11],
Hình bộ Tả thị lang, (tước) Bá Trạch hầu Nhữ Thượng Chân[12] (tức
Nhữ Đình Toản).
Quê gốc dòng nội (họ ta) ở thôn Đông,
xã Lỗi Dương.
Tổ đời thứ 2[13]: tự Huyền Minh, táng tại xứ Mả Quan, xã Lỗi Dương.
Bà tổ họ Nguyễn[14]
(Vũ), hiệu Từ Hành
Tổ đời thứ 3: Từng làm Tri phủ Trường An và Bắc Hà, được ban Vương Truyền công, (tước)
Đoan Nghĩa tử, Nhữ Tướng công tự là Đạm Hiên, táng tại xứ Mả Phóng, xã Lỗi
Dương. Bà tổ họ Nguyễn, hiệu Trang Thuận.
Tổ đời thứ 4: Làm Tri huyện Giao Thủy, Nhữ Tướng công tự Thiện Tính, táng trước sân miếu
thôn Học. Bà tổ họ Chu, hiệu Thục Hạnh.
Tổ đời thứ 5: (có hai cụ) Trưởng nam là Quan viên tử[15],
là ngành (phái) họ ta; Thứ[16]
nam làm văn chức[17]
trong triều, từng giữ chức Tri huyện Lương Tài và Thanh Hà, (tước) Văn Thọ tử;
(Cụ Trưởng, đời 5) Nhữ tướng công, tự Nhã Trực, táng Mả Phóng. Bà tổ họ Phạm,
hiệu Từ Đức.
Tổ đời thứ 6: Xử sĩ[18],
được phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, (chức) Tán trị Thừa chính sứ
ty, xứ Thái Nguyên; Nhữ Tướng công, húy Lương, tự Văn Nghị, hiệu Chân Thông. Bà
tổ họ Chu, (hiệu) Thục Tiết.
Tổ đời thứ 7: Triều vua Lê ban Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Giáp Thìn,
làm quan chức Đô cấp sự trung Bộ Lễ, phong Hoằng Tín đại phu, Thái thường tự
khanh; Gia tặng Gia hành đại phu, Bộ thị lang; Tái gia tặng Đặc tiến Kim tử
Vinh lộc đại phu, chức Đô ngự sử tại Ngự sử đài, tước Liên khê bá; Tái gia tặng
chức Thượng thư Bộ công, tước Liên Khê hầu, Nhữ Tướng công, húy Lộng, hiệu Giới
Hiên; táng xứ Mả Phóng. Bà tổ hiệu Từ Đoan, táng xã Bùi Xá.
Tổ đời thứ 8: Tiến sĩ khoa thi Canh Thân, Quang lộc đại phu, (chức) Bồi tụng, Hữu thị
lang; Do có tài năng chính trị, uy tín và tài hùng biện nên được thăng Phó đô
ngự sử tại Ngự sử đài; Trải các chức Thượng thư Bộ Hình, tước Thọ nhạc tử, sau
vì dạy con đỗ đạt nên được tặng chức Thượng thư Bộ Lễ, Thiếu bảo, Thái bảo,
Thái phó, tước Thọ Quận công, Trụ quốc Thượng tướng; Nhữ Tướng công húy Hiền,
được ban thụy là Thông Tuấn; Táng tại xứ Liên Hoa, thôn Học[19];
Chính thất họ Vũ,[20]
húy Lãng, hiệu Đoan Hậu, táng tại xứ Tổ Đình; Thứ thất họ Lâm, húy Nhiên, hiệu
Từ Chân.
Tổ tiên phát tích từ Hoạch-Giang[21], nhánh phái tách ra đến đất Tê[22]
(Quả) cư trú. Theo nguồn gốc chép lại, thứ tự các đời đã chín đời.
Nay dựng riêng miếu thờ, trang nghiêm
hòa mục.
Ngàn thu không mất, tiếng thơm còn
truyền, công đức còn tỏ. Muôn vạn năm hương đăng tế tự, nghìn trăm năm con cháu
áo mũ phụng thờ tổ tiên.
·
(đ.1) Tị tổ
hiệu Phúc Chính, sinh ra hai chi:
·
(đ.2.giáp)
Chi Giáp: Tiên liệt (tiên tổ) tự Phúc Khang;
·
(đ.2.ất)
Xã Bối Khê[23], Chi Ất: Tiên liệt (tiên tổ) tự Phúc Lương.
·
(đ.3.giáp)
Chi Giáp lại phân ra các phái, Tiên thiếu là Phúc Lượng.
·
(đ.3.ất)
Chi Ất, Tiên thiếu là Phúc Tuân.
·
(đ.4.giáp)
Chi Giáp, Liệt tổ là (Phúc) Thông sinh ra hai nhánh (là Phúc Bình và Phúc Bảo)
·
(đ.5.giáp.a)
Sau đó Thiếu tổ Phúc Bình sinh ra bốn nhánh
·
(đ.5.giáp.b)
Thiếu tổ Phúc Bảo chia ra các phái bên dưới
·
(đ.6.giáp.a.1)
Nhánh Giáp: Cao tổ (đời 6) tự là Phúc Quyền (権), sinh ba nhánh (nhỏ), Trưởng là Chánh tổng, tự là
...
·
(đ.6.giáp.a.2)
Nhánh Ất: Cao tổ (đời 6) tự Phúc Hoành (鐄), sinh hai nhánh (nhỏ), Trưởng là Nhữ Đô.
·
(đ.6.giáp.a.3)
Nhánh Bính: Cao tổ (đời 6) tự Phúc Côn (昆), hiệu Nhữ Môn, giỗ ngày 01 tháng 02.
·
(đ.6.giáp.a.4)
Nhánh Đinh: Cao tổ (đời 6) hiệu Phúc Trực (直), tên húy Lập Đông, sinh năm nhánh (nhỏ), Trưởng Tằng
tổ tự Phúc Dụng (được phong) Bát phẩm.
Hoàng triều Tự Đức năm thứ 3 (1850),
Thiếu tổ (đời 5) là Nhữ Đình Quý, làm Cai Tổng được ban tước Bát phẩm, tự Phúc
Bình, đem hết lòng, xuất của cải, gia sản tích góp để lập nơi thờ tự. Có bia
đá, nhưng lâu ngày rêu phủ khó khảo cứu.
Đến năm Nhâm Thìn (1952), huyền tôn
(chít) là Nhữ Nam Phong, và Nhữ Phụng Diệp chi Ất xã Bối Khê cùng họp bản tộc
khắc lại bia đá, ghi rõ thế thứ để lại cho con cháu đời sau. Mong con cháu xem
bia này mà phấn khởi, Từ đường ngày càng thêm rạng rỡ, tôn kính tổ tiên đến
muôn nghìn đời vậy.
Bản ghi của Tằng tổ (cụ) thi (Hương) đỗ tam trường Nhữ công tự Phúc Luận[24].
[1]
延世.. 云乎.: đoạn văn bia này
chép từ sách “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”, phần Lời tựa, của tác giả Nhữ Thượng
Chân, tức Nhữ Đình Toản.
[2] 丙 bính: chữ “bính” trong “Bính Thìn” – Văn bia rõ
nét chữ “一 nhất” phía trên, các nét chữ phía dưới để cấu thành chữ “丙 bính” mờ, dấu hiệu có tác động vật lý. Chính xác là chữ “丙 bính”.
[3]
丙辰科... 汝尚真: đoạn văn bia này
chép từ sách “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”, phần Lời tựa, đoạn ghi danh tác giả soạn
sách (năm đỗ tiến sĩ, chức tước Nhữ Thượng Chân, tức Nhữ Đình Toản tại thời điểm
năm Cảnh Hưng thứ 6 -1745).
[4] 耒: chữ “lỗi” trong danh từ giêng tên xã Lỗi Dương gồm bộ “thủy” ghép cùng chữ
耒lỗi,
do phần mềm chế bản chữ Hán không có chữ này, nên tạm dùng chữ “lỗi 耒” –
mượn âm.
[5] 阮: theo Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, Bà tổ đời 2 họ Vũ 武,
văn bia này chép nhầm.
[6]
Từ Nhị thế tổ đến Bát thế tổ văn bia
chép từ sách Hoạch Trạch Nhữ tộc phả.
[7] 長安: Trường An, bia khắc đảo lại là 安長, chính xác là Trường An
[8] 頒: chữ “ban” bia khắc chữ “須”, người soạn văn bia đã viết chữ “分” trong chiết tự chữ
“頒 ban” theo dị thể.
[9] Từ “Nhị thế tổ...” đến “Bát thế tổ”: Được chép từ cuốn
Hoạch Trạch Nhữ tộc phả của Nhữ Thượng Chân.
[10]
Đoạn
văn bia này chép từ sách “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”, phần Lời tựa, của tác giả
Nhữ Thượng Chân, tức Nhữ Đình Toản.
[11] Tham tụng: Chức quan đại thần, nắm quyền Tể tướng, đứng
đầu Ban văn.
[12]
Đoạn
văn bia này chép từ sách “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”, phần Lời tựa, đoạn ghi danh
tác giả soạn sách (năm đỗ tiến sĩ, chức tước Nhữ Thượng Chân, tức Nhữ Đình Toản
tại thời điểm năm Cảnh Hưng thứ 6 -1745).
[13] Từ Nhị thế tổ (đời thứ 2) đến Bát thế tổ (đời thứ 8) văn
bia chép từ sách Hoạch Trạch Nhữ tộc phả.
[14] Nguyễn: theo Hoạch Trạch Nhữ tộc phả,
Bà tổ đời 2 họ Vũ 武.
[15] Quan viên tử: Từ thời Lê Trung Hưng, con cháu công thần
được gọi là Quan viên tử. Cụ trưởng đời 5 tên tự là Nhã Trực, húy Trị, húy Sạ.
[16] Con thứ: Theo Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, bản lưu tại Viện
nghiên cứu Hán Nôm, cụ tên Nhữ Văn Trạch, hậu duệ sinh sống tại Lỗi Dương (thôn
Sồi Cầu).
[17] Văn chức: “Thị nội văn chức” chỉ người làm nhân viên quan
văn trong triều.
[18] Xử sĩ: người có học, có uy tín trong cộng đồng, nhưng
không tham gia thi cử, không làm quan.
[19] Thôn Học: xưa là thôn Học, xã Đình Tổ, nay là thôn Tó, xã
Đường An.
[20] Chính thất: Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền có 8 bà vợ là: Cụ bà
Chính thất họ Vũ, húy Lãng; Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Diệu Thanh; Cụ bà họ Lâm, húy
Nhiên; Cụ bà hiệu Diệu Bình, húy Thiều; Cụ bà họ Phạm, hiệu Thục Đức, húy
Thuyên; Cụ bà họ Chu, hiệu Diệu Huy, húy Sám; Cụ bà họ Nguyễn, hiệu Diệu Kính,
húy Tô; Cụ bà họ Lê, hiệu Mẫn Huệ, húy Khiêm;
[21] Hoạch-Giang: Viết đủ là xã Hoạch Trạch – huyện Bình
Giang.
[22] Tê 犀: Văn gia viết Tê thổ, chỉ đất Tê (Quả) ngày nay.
[23] Bối Khê xã: Về văn bản học, đoạn văn bia: “甲支先列字福康貝溪社...” được dịch là: “Chi Giáp Tiên liệt, tự Phúc Khang, ở xã Bối Khê” – Thực
tế, phái trưởng là cụ Nhữ Phúc Khang sống ở Tê Quả, nên cụm chữ “貝溪社” được ngắt sang câu kế tiếp, chỉ nơi sinh sống của phái thứ là cụ Nhữ Phúc
Lương.
[24] Phúc Luận 福論: chữ 論 còn có phiên âm khác là “Luân”

