MỘT SỐ TRƯỚC TÁC CỦA TÁC GIA HỌ NHỮ

Sách Bách ti thứ vụ (百司庶務)
    Trong kho tàng tư liệu Hán Nôm, bao gồm cả thư tịch Hán Nôm được viết trên giấy và văn khắc Hán Nôm được lưu giữ trên bia đá cùng các chất liệu khác, hiện còn bảo tồn một số trước tác của các tác giả họ Nhữ. Đây là những tư liệu có giá trị về nhiều phương diện, bao gồm các văn bản quy phạm và hành chính do triều đình ban hành, các tác phẩm thơ văn, các bài văn bia và nhiều loại hình văn bản khác.
    Dưới đây là tổng hợp khái lược một số trước tác tiêu biểu của các tác gia họ Nhữ còn được lưu truyền đến nay.

    1. CÁC BÀI VĂN BIA (văn khắc)
    1.1 Văn bia “Bạch Mã thần từ bi ký” lập năm Chính Hòa thứ tám (1687). Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng là tác gia soạn văn bia.
    Vị trí ở bên phải Tam quan đền Bạch Mã, số 76 phố Hàng Buồm, Thành phố Hà Nội. Bia lập năm Đinh Mão (1687), là văn bia có niên đại sớm nhất trong đền Bạch Mã hiện nay. Văn bia ghi lại quá trình trùng tu đền, Nhữ Nột Tẩu, tức Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng 汝進用 (1623 – 1689) là người đứng ra tổ chức xây dựng lại đền, cũng là tác giả soạn văn bia.
    1.2 Văn bia đề tên tiến sĩ khoa Nhâm Thân, Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông. Tiến sĩ Nhữ Đình Toản là tác gia soạn văn bia.
    Bia dựng tại Văn Miếu – Quốc Tử giám Hà Nội. Bài ký trên bia ghi “Bia lập vào tiết trọng xuân niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 14 (1753) triều Hoàng Lê. Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Nhập thị Bồi tụng, Hình Bộ Tả Thị lang, Tri Hàn lâm viện sự, Bá Trạch hầu bề tôi là Nhũ Đình Toản vâng sắc soạn.
    1.3 Văn bia đề tên tiến sĩ khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 18 (1757) đời vua Lê Hiển Tông. Tiến sĩ Nhữ Đình Toản là tác gia soạn văn bia.
    Bia dựng tại Văn miếu – Quốc Tử giám Hà Nội. Bài ký trên bia ghi: “Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu Nhập nội thị Bồi tụng, Ngự sử đài Phó đô ngự sử, hành Binh bộ Tả thị lang, Tri Hàn lâm viện sự. Bá trạch hầu bề tôi Nhữ Đình Toản vâng sắc soạn. Bia lập ngày 19 tháng chạp niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 18 (1757) Hoàng Lê”.
    1.4 Văn bia đề tên tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772), Triều vua Lê Hiển Tông. Tiến sĩ Nhữ Công Toản (tức Nhữ Đình Toản) sửa (nhuận) văn bia.
    Bài dựng tại Văn miếu – Quốc Tử giám Hà Nội. Bài ký trên bia ghi: Bia dựng ngày 24 tháng 12 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) Hoàng Lê... Hội nguyên, đồng Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị nội Tham tụng, Binh bộ Thượng thư, cải thụ Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, trí sĩ, Trung Phái hầu Nhữ Công Toản vâng sắc nhuận (sửa).
    1.5 Tân tạo Đại Tư đồ Hoàng Thai công sinh từ bi ký[1], do Nhữ Công Toản tước Trung Phái hầu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đồng dự chính vụ, Quyền Phủ sự, Hữu Hiệu điểm, quê xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, xứ Hải Dương soạn năm Cảnh Hưng 23 (1762). Bia đặt tại Xã Phụng Công, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang. Nội dung chép việc xây sinh từ để dân thờ sống ông Hoàng Công Phụ.
    1.6 Tân kiến Phượng Sơn hậu hiền bi ký, do Trung Phái hầu Nhữ Đình Toản, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Binh bộ Thượng thư, cải Điện tiền Đô Hiệu điểm ty, Hữu Hiệu điểm, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ, người Xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, xứ Hải Dương, soạn năm Cảnh Hưng 26 (1765). Bia đặt tại xã Thiết Sơn, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang.
    1.7 Hậu Thần bi ký, do Nhữ Công Toản, tước Trung Phái hầu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đồng dự chính vụ, Quyền Phủ sự, Hữu Hiệu điểm, trí sĩ soạn năm Cánh Hưng 33 (1772). Bia đặt tại đình xã Vân Cốc, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, Xứ Kinh Bắc.
    1.8 Trùng cấu từ vũ bi ký, do Trung Phái hầu Nhữ Chuyết Trai (Nhữ Công Toản) người xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, chức vụ ghi kèm là Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Quyền Phủ sự, Đồng dự chính vụ, trí sĩ soạn năm Cảnh Hưng 29 (1768). Bia đặt tại văn chỉ xã Thường Vũ, huyện Gia Bình, phủ Thuận An (tỉnh Bắc Ninh). Nội dung ghi chép: Văn chỉ xã Thường Vũ bị đổ nát, quan Lễ bộ Thượng thư Trần Danh Ninh là người bản quán đã bỏ tiền của ra để tu sửa lại. Nhữ Đình Toản là quan đồng triều, cùng ngang chức vụ đã được mời về soạn văn bia.
    1.9 Hậu Thần bi ký, do Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Điện tiền Đô Hiệu điểm, Quyền Phủ sự, Trung Phái hầu, Đường An, Hoạch Trạch Chuyểt Trai Nhữ (Nhữ Đình Toản) soạn năm Cảnh Hưng 31 (1770). Bia đặt tại xã An Vĩ, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Bia ghi chép: Quan Thái tể, Đại Tư đồ, Tả Tướng quân Nguyễn Bá Khanh là người có công đánh giặc, chiêu tập dân lập nên xóm ấp yên vui nên được dân bầu là Hậu thần.
    1.10 Khôn Trinh phủ bi ký, do hai vị Tiến sĩ là Nguyễn Lê và Phan Lê Phiên soạn. Tiến sĩ Nhữ Công Toản, Quang tiến Trấn quốc Thượng tướng quân, Quyền Phủ sự đồng dự chính vụ, Đô đốc phủ Tả Đô đốc, trí sĩ, Trung Phái hầu Nhữ Công Toản nhuận sắc (sửa). Bia lập năm Cảnh Hưng 32 (1771), đặt tại xã Linh Đường, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Văn bia ghi chép về bà Chánh phi Hoàng Thị Thực. “Khôn Trinh” là hai chữ mà triều đình ban tặng cho bà, với ý nghĩa là tuyên dương là người trinh thuận, mẫu mực.
    1.11 Hậu thần bi ký, soạn cuối thế kỷ XVIII, đặt tại: “Đại bái đình hữu biên” (xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, xứ Hải Dương). Quan triều Hàn Lâm viện đãi chế Nhữ Công Chấn, Quan viên xứ Nghệ An Hiến Sát sứ, Hiến Sát phó sứ Nhữ Công Vũ cùng các hương lão, xã trưởng..., lập và soạn bia. Bia ghi chép việc lập Hậu thần (đình) cho Cẩn sự lang, Tự thừa Nhữ lệnh công, tự Từ Hòa, hiệu Cẩn Hậu cùng vợ là Nguyễn Quý thị.

    2. CÁC TÁC PHẨM VĂN BẢN (CHÉP TRÊN GIẤY)
    2.1 Tác gia Nhữ Đình Toản (Nhữ Công Toản), sinh năm 1703, mất năm 1773, đỗ Hội nguyên, Tiến sĩ năm 1736.
    Sách Bách ti thứ vụ (百司庶務)
    Sách chữ Hán, là sách quy phạm pháp luật do triều đình ban hành. Quan Tham tụng Nhữ Đình Toản được giao soạn. Sách có nhiều tên khác như: Bách ti chức chưởng (百 司 職 掌); Tấn thân thực lục (縉 紳 實 錄). Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm đang lưu bản in do Nguyễn Sĩ Tín in năm Cảnh Hưng 12 (1751), 66 tr., 26 x 16 (ký hiệu: VHv. 1273; MF. 1756).
    Sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí: Quyển VIII, tác giả Phan Huy Chú chép: “Năm Tân Mùi (1751) hiệu chính quyển Bách ti chức trưởng (Bách ti thứ vụ), ông (Nhữ Đình Toản) tham khảo châm chước điển lệ các triều trước, đem 9 điều dạy bảo cho tướng phủ. Thời bấy giờ khen là điển chương tốt”.
    Khâm Định Việt Sử Thông Giám cương mục chép: “Tháng 6 (năm 1751). Chấn chỉnh chức trách các quan giữ việc chính trị. Trịnh Doanh lấy cớ rằng trong nước gần được được bình định, cần phải chấn chỉnh chức trách các viên quan giữ việc chính trị bèn hạ lệnh cho tham tụng Nhữ Đình Toản châm chước điển lệ các triều, xếp đặt quan chức phẩm trật thành từng loại, gọi là "Tấn thân thực lục". Lại ban hành 9 điều nói rõ chức trách công việc các quan trong kinh, ngoài trấn:
    1- Giúp đỡ vua làm cho bụng nghĩ của vua được ngay thẳng. 2- Phân biệt, kèn chọn quan lại. 3- Bàn định chính sách đối với dân. 4- Định kỷ luật quân ngũ. 5- Xếp đặt việc chi dùng trong nước. 6- Sách tỏ về thể lệ kiện tụng. 7- Bàn định việc tính toán chi thu. 8- Việc thường, việc phạt phải cho đúng lẽ. 9- Hiệu lệnh phải tin thật.
    Chín điều trên này răn bảo các quan giữ việc trong chính phủ, để tuỳ tài từng người mà trao cho chức việc, phân biệt bổ dụng các chức quan...
... Phép tắc kỷ cương dần dần buông lỏng, trăm quan phần nhiều trễ tràng, đến nay đều chấn chỉnh lại, làm cho chế độ cũ được sáng tỏ, để các quan trong kinh ngoài trấn đều răm rắp tuân theo giữ chức phận của mình."
    Đây là tài liệu quan trọng giúp hậu thể hiểu rõ hơn về tổ chức bộ máy chính quyền, quan chế, chức năng nhiệm vụ của các quan chức giai đoạn thế kỉ XVIII.
    Tài năng chính sự của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản được khảng định rất nổi trội qua sách “Bách ti thứ vụ” và nhiều trước tác khác.

    Sách Hoạch Trạch Nhữ tộc phả (穫 澤 汝 族 譜)
    Sách chữ Hán, do Nhữ Thượng Chân (汝尚真), tức Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1703-1773) khởi soạn và viết lời tựa mùa đông năm Ất Sửu (1745). Tên chữ cuốn tộc phả do tác giả đặt là “Tư hiếu thế lục 思孝世錄” với nghĩa là: ghi chép về thế thứ với tấm lòng kính hiếu, suy niệm về đạo hiếu. Khi sao chép lại, hậu thế lấy thêm tên mới là “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”.
    Trong phần lời tựa, tác giả viết: “景興六年歲次乙丑仲冬毂旦賜丙辰科第三甲進士出身特進金紫榮祿大夫入侍陪從刑部左侍郎播澤侯汝尚真拜序”, Phiên âm: Cảnh Hưng lục niên tuế thứ Ất Sửu trọng đông cốc đán, Tứ Bính Thìn khoa, Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nhập thị Bồi tụng, Hình Bộ Tả thị lang Bá trạch hầu Nhữ Thượng Chân bái tự. Dịch nghĩa: Năm Ất Sửu, Cảnh Hưng thứ 6 (1745), buổi sáng, giữa mùa đông (trọng đông/ tháng 11), Tứ Bính Thìn khoa, Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị Bồi tụng, Hình bộ Tả thị lang, Bá Trạch hầu Nhữ Thượng Chân (Nhữ Đình Toản) kính cẩn soạn.
    Tiến sĩ Nhữ Đình Toản là tác giả soạn phần đầu cuốn tộc phả, phần thế thứ, sự tích, sắc văn, sắc phong... có niên đại sau khi Tiến sĩ Nhữ Đình Toản mất do các đời sau chép tiếp.
    Cuốn tộc phả có nhiều bản viết tay đang lưu truyền, đó là:
    Bản A: đang lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.677; MF.1484. Năm 2012, ông Nhữ Đình Văn đã đặt hàng sao chụp làm tư liệu. Những năm 2015 đến 2023 ông Nhữ Đình Văn đã dịch toàn bộ ra quốc ngữ và in trong sách “Di sản Hán Nôm họ Nhữ - Tập 1”.
    Bản B: do Chi 2, Phái 5 họ Nhữ Hoạch Trạch lưu truyền. Được các gia đình, nhánh họ sao chép nhân bản, hiện đang lưu hành 4 cuốn, Trước năm 2000, Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Cầu đã dịch khoảng 50 trang đầu trong tổng số 147 trang ra Quốc ngữ và được lưu hành rộng rãi trong dòng họ. Những năm 2015 đến 2024, ông Nhữ Đình Văn đã dịch các phần “sắc văn”, “sắc phong”, “câu đối” trong “Bản B” mà PGS Hà Văn Cầu chưa dịch và dịch lại một số “sự tích” về bà Nhữ Thị Thục, Nhữ Thị Nhuận... và in trong sách “Di sản Hán Nôm họ Nhữ - Tập I, II.
    Bản A và Bản B cơ bản giống nhau ở phần thế thứ, sự tích từ đời 1 đến đời 8.
    Phần chép bổ sung (khác nhau): Sau khi dịch và dịch lại cả hai phiên bản “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả” (Tư hiếu thế lục), người dịch đã đối chiếu và thấy hai phiên bản có chép thêm nhiều tư liệu, bổ sung cho nhau về lịch sử, thế thứ, sự tích, đặc biệt là các tư liệu do triều đình ban tặng như sắc văn, sắc phong là các tư liệu rất quý giá.
    Bản A chép bổ sung chi tiết, sâu về lý lịch, tích truyền các cụ tổ bà (tỷ); có chép bài từ do Tiến sĩ Nhữ Đình Toản viết tặng anh họ Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai; Có thế thứ về dòng trưởng, dòng thứ ở Lỗi Dương (Sồi Cầu); Ghi chép: Chi con trai thứ 3 kế thừa làm trưởng, có ghi chép về ngày, tháng, năm mất của Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai; Chi con trai thứ 6; Chi con trai thứ 7 là các con trai Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng. Nhánh họ Nhữ làng Như, làng Quàn là con cháu Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, có các bài văn khấn gia tiên và lễ tết trong năm.
    Bản B có chép bổ sung các sắc văn, sắc phong, văn tế, phụ lục về sự tích bà Nhữ Thị Thục, Nhữ Thị Nhuận, Nhữ Đình Toản... Chép tiếp từ đời 9 đến đời 15 của chi 2, phái 5 (riêng cuốn do nhánh ở Hà Nội lưu truyền có chép thêm về các cá nhân sinh sống ở Hà Nội, kèm cả các bài thơ).
    Nhà sử học Tăng Bá Hoành đã nhận xét: “Từ năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745), Tiến sĩ, Thượng thư Nhữ Đình Toàn đã biên soạn cuốn gia phả có tên Tư hiếu thế lục, đời sau có tục biên nhưng căn bản giữ nguyên bản gốc của Nhữ Đình Toản. Đây là một mẫu mực về viết gia phả ở triều Lê trung hưng”
    Thạc sĩ Phạm Văn Ánh (Viện Văn học) đã đánh giá: “cuốn tộc phả này ban đầu tên là Tư hiếu thế lục, do Nhữ Đình Toản Soạn, song chắc chắn ông chỉ có thể viết tối đa là hết đời thứ 8. Từ đời thứ 9 trở đi do hậu nhân viết thêm vào sau này, muộn nhất là năm 1906, tức năm sách được sao lục lại. Trong quá trình lưu truyền từ năm 1745 đến 1906, có thể diện mạo ban đầu cũng đã có những thay đổi nhất định. Dẫu vậy, đây cũng vẫn là tài liệu rất quan trọng để nghiên cứu về Nhữ Đình Toản nói riêng cũng như gia tộc họ Nhữ ở Hoạch Trạch nói chung”.

    Sách Quân trung liên vịnh (軍 中 聯 詠)
    Theo danh mục di sản Hán Nôm trong website hannom.vass.gov.vn, tập thơ được chép gộp trong Danh gia thi tạp vịnh (名 家 詩 雜 詠 kí hiệu: A.1104). Theo ThS. Phạm Văn Ánh (Viện Văn học): Lời tựa do Đệ nhị giáp chính Tiến sĩ khoa thi năm Tân Hợi (1731), phụng sai Đông An đạo Hiệp đồng, Hiển cung đại phu, Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Hồng Ngư cư sĩ Nguyễn Hi Tư (tức Nguyễn Nghiễm[2]) viết vào cuối xuân năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741). Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn (1736), Phụng sai Đông An đạo Hiệp mưu, Cần sự lang, Hàn lâm viện Hiệu thảo Nhữ Thượng Chân (tức Nhữ Đình Toản) viết.
    Trong sách gồm cả thảy 19 bài thơ thất ngôn bát cú chữ Hán Nguyễn Nghiễm 10 bài (xướng 3, họa 7), Nhữ Đình Toàn 9 bài (xướng 3, họa 6). Như vậy, đây là tập thơ tập hợp các bài do Nguyễn Nghiễm và Nhữ Đình Toàn xướng họa với nhau năm 1740, nhận được sai đi dẹp loạn ở Hải Dương, do Nhữ Đình Toản biên chép, Nguyễn Nghiễm đề tựa. Thông qua Quân trung liên vịnh có thể thấy được quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa Nguyễn Nghiễm và Nhữ Đình Toàn đồng thời cũng có thể biết đôi chút về các cuộc nổi dậy của nông dân ở Hải Dương năm 1740.

    Sách Lê triều giáo hóa điều luật (黎 朝 教 化 條 律)
    Lê triều giáo hóa điều luật (黎 朝 教 化 條 律), còn có tên khác là Lê triều giáo hóa điều lệ (黎 朝 教 化 條 例) do quan Thượng Thư - Tham Tụng Nhữ Đình Toản diễn quốc âm bằng văn vần theo thể lục bát 47 điều luật do Phạm Công Trứ soạn bằng chữ Hán, triều đình Lê Trung Hưng ban hành lần đầu là năm Cảnh Trị nguyên niên (1663) - Tác phẩm công vụ này là để phổ biến luật bằng văn vần, quốc âm tới toàn thể dân chúng, với phần đông là không biết chữ. Toàn bộ tác phẩm có 49 bài thơ, gồm bài Mở đầu, tiếp đó là 47 bài thơ diễn Nôm 47 Điều luật và bài Kết.
    Nguồn tư liệu: Bản diễn Nôm Lê triều giáo hóa điều luật của tác giả Nhữ Đình Toản được đăng trên Nam Phong tạp chí, số 88, tháng 10-2924. Học giả Trần Trọng Kim đã dịch ra tiếng Pháp (Les 47 Articles du Catéchisme moral de l’Annam d’autrefois), Trung Bắc tân văn xuất bản, Hà Nội, 1928.
    Trích một số khổ thơ trong Lê triều giáo hóa điều luật:
MỞ ĐẦU
Trời Nam vững đặt âu vàng,
Bến kình tăm bặt ải lang khói tàn.
Bốn phương ấm chiếu đã an,
Muốn cho phong tục đổi ngoan về thuần.
Giáo điều noi phép tiên quân,
Mượn câu quốc ngữ để răn trong ngoài.

ĐIỀU 1
Này lời nhủ kẻ làm tôi:
Hết ngay ra sức giúp đời cho yên.
Văn thì công chính thường gìn,
Kính vâng ti sự cần quyền sớm khuya,
Phải chăm hiến thế hợp nghi,
Khiến trong công dịch đều thì đắc trung,
Chẳng nên giam mặc lôi đồng,
Nấy nhau mà chẳng có lòng sửa sang.
Kiện bàn thiện ác cho tường,
Mà phân khúc trực rõ ràng kẻo oan.
Chẳng nên dung túng kẻ gian,
Vì tài vì nghĩa mà toan kết bè.
Võ thì hãn ngữ việc lề,
Phải cùng lòng sức một bề trước sau.
Trị quân giảng tập cho làu,
Khiến đều tinh nhuệ đua nhau vui dùng.
Chẳng nên giáo tập trễ không,
Sai chầy hàng ngũ chẳng dùng phép binh.
Cai dân phú dịch tùng khinh,
Khiến nơi thôn ấp tuận tình đều vui.
Chẳng nên hiếp chúng dối người,
Lòng tham hà ngược tơi bời hại dân.
Ai mà giữ được lời răn,
Mới hầu phải đạo nhân thần làm tôi.
47 bài thơ diễn quốc âm 47 điều luật, kết thúc là bài thơ Kết:
KẾT
Này bốn mươi bẩy điều răn,
Cai nha môn phải khác tuân phụng hành.
Thì thường chuyển tống trách mình,
Khiến cho phường xã đàn anh tương truyền.
Hễ ngày kì phước xã điền,
Hội đồng nam nữ giải khuyên mọi người.
Hai ba lần nhủ rạch ròi,
Khiến cho già trẻ cùng loại phàm sĩ,
Tai nghe mắt thấy điều hay,
Khuyến trùng rõ biết phép này đinh ninh,
Để cho về thói ở lành,
Đều càng hưởng phúc thái bình lâu xa.

    Lê triều giáo hóa điều luật nhận được nhiều quan tâm của giới học giả, tác phẩm vẫn đang còn nhiều tranh luận về thời điểm ban hành, tư liệu gốc...

    Theo ThS. Phạm Văn Ánh[3] (Viện Văn học), Tiến sĩ Nhữ Đình Toản còn một số tác phẩm, nằm rải rác trong các tài liệu khác nhau, như:
    “Chế sắc biểu khải văn tập" (制 敕 表 啟 文 集 - A.2832/1-2): trong sách có các tác phẩm sau:
    - Bài chế phong cho Việp Trung hầu lên tước Việp Quận công (Phong Việp Trung hầu vi Việp Quận công chế văn 封 曄 忠 侯 為 曄 郵 公 制文), ghi “Thượng thư Nhữ Đình Toản phụng soạn 尚 書 汝 廷 瓚 奉 摆”
    - Bài chế văn phong cho chưởng Ngự y viện kiêm Quận công (Phong Chưởng Ngự y viện kiêm Quận công (Xuân Lũng Nguyễn Thế Khoa) chế văn 封 掌 御 醫 院 兼 郡 公 (春 隴 社 阮 世 科 制 文), do “Thượng thư Nhữ Đình Toản soạn” (尚 書 汝 廷 瓚 摆).
    (Hai bài chế trên có in trong sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc tử giám”, nxb Hà Nội).
    - Tờ khải của các quận hai ban (văn, võ) dâng mừng ngự giá về cung (Lưỡng ban quan tiến hạ ngự giá hoàn kinh khải 兩 班 官 進 賓 御 駕 還 宫 啟), ghi do “Hành Tham tụng Nhữ Đình Toản soạn 行 參 從 汝 廷 鑽 撰”.

    Đại Mỗ Nguyễn tộc Tai đại vương phả kí (大 某 社 阮 族 三 大 王 譜 記, -VHv. 1337): Bài bị kí miếu Hữu ti giảng Đại vương (Hữu ti giảng Đại vương miếu bi kí 右司講大王廟碑記), ghi do Nhữ Đình Toản, Lê Hữu Kiều, Nghiêm Bá Đĩnh soạn.

    Thịnh thế giới văn tập (盛 世 佳 文 集. - A.438): trong sách có các bài:
    - Bài tựa viết cho các quan viên ở huyện Cẩm Giàng chúc mừng Nguyễn Quý Hầu ở Thu Lãng đỗ Tiến sĩ (Cẩm Giàng huyện quan viên hạ Thu Lãng Nguyễn Quý Hầu đăng Tiến sĩ tự đề 錦 江 縣 官 員 贺 秋 浪 阮 貴 侯 登 進 士 叙), viết vào mùa thu năm Giáp Tuất niên hiệu Cảnh hưng năm thứ 15 (1754). Bài tựa được in trong sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc tử giám”, nxb Hà Nội (tủ sách 1000 năm Thăng Long – Hà Nội).
    - Bài thơ mừng Kim tử vinh lộc đại phu, Nhập thị Bồi tụng, Ngự sử đài Phó đô Ngự sử, Hành Binh bộ Tả thị lang, kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Bí thư các Học Sĩ Lễ Trạch hầu Nguyễn đài công, vinh thang Binh bộ Thượng thư về trí sĩ, chép trong bài tựa tự viết của Nguyễn Bá Lân nhân khi về trí sĩ (Hầu tử Bá Lân tinh lực, tự tự trí sĩ lục 侯 子 伯 粦 并 錄,自 敘 致 仕 錄), chép chung cùng thơ các quan triều đường chúc mừng.
    - Bài điếu văn viết thay Đại nguyên soái Minh vương điếu tế các tướng sĩ trước trận ở đàn Trung Sa (Đại nguyên soái Minh Vương ủy điếu Trung Sa đàn trận tiền tướng sĩ văn - Hoạch Trạch Thượng thư quan Nhữ Đình Toàn công phụng nghĩ 大 元 師 明 王 慰 争 中 沙 壇 陣 前 將 士 文 一 群 澤 尚 書 官 汝 廷 璜 公 奉 擬). Bài điếu văn được in trong sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc tử giám”, nxb Hà Nội (tủ sách 1000 năm Thăng Long – Hà Nội).

    “Quan Thượng thư Nhữ Đình Toản người xã Hoạch Trạch vâng lệnh soạn.
Hỡi ôi !
    Quân đội ra đi, nghĩa tình gắn bó con sâu đậm;
    Nghĩa quân trở về, binh khi máu me vẫn dính đầy.
    Vỗ về chuyện đã qua để mãi ghi ơn;
    Nhìn ngắm bãi chiến trường mà lòng cảm kích.
    Bởi quân giặc đất vua giở giáo, tàn phá một phương;
    Thương quân ta núi máu vung rìu, ngậm tăm(1) mấy độ.
    Giáo liếc gươm mài, tổ kiến dồn quân xây thành vững chắc;
    Dầm mưa dãi gió, ngựa xe rong ruổi vào chốn cùng đường.
    Phất cờ nơi nước lửa đâu sờn, quả thực nổi danh tướng giỏi;
    Lăn xả chốn đạn tên đau xót, chỉ vì giết giặc lòng căm.
    Sầu vấn vương mịt mù tựa mây núi Đảo,
    Lệ biệt ly cuồn cuộn như nước sông Lô.
    Đến nay công việc xong xuôi,
    Rà soát công lao ghi để.
    Nhớ ngày trước, công lao giúp nước, ngọt bùi cay đắng cùng chia, mà kẻ còn kẻ mất có khác nhau;
    Bởi vậy nay, trọng đãi đền ơn, mờ nhạt vẻ vang có khác, nhưng người sống người chết đều đau đớn.
    Than ôi trung nghĩa khó đáp đền,
    Vẫn khiến anh hùng thêm than thở.
    Vết chân lớn chứa đầy máu giặc, đã hòa bình còn u phẫn đương thời;
    Bãi cát bằng đặt chút đồ dâng, mãi biểu dương lòng sắt son muôn kiếp”.

    Việt thì tục biên (越 詩 續 編 - VHv92): có ghi 1 bài thơ của Nhữ Đinh Toản làm thay thơ ngự chế đáp tăng sứ nhà Thanh là Cổ Nhữ Tu (Phụng nghĩ ngự chế đáp Đại Thanh sách sử Đức Bảo Cố Nhữ Tu 奉 擬 御 製 答 大 清 册 使 德 保 顧 汝 修):

    Nguyên văn: Phiên âm:
月 朗 中 天 萬 象 明 Nguyệt lãng trung thiên vạn tượng minh,
使 華 光 彩 耀 宜 京 Sử hoa quang thái điệu nghi kinh
親 承 風 語 知 堯 溪 Thân thừa phượng chiếu tri Nghiên ốc,
迎 接 繁 儀 見 爱 民 Nhĩ tiếp loan nghi khiến Thuấn dân.
一 路 賢 勞 嵐 霧 齋 Nhất lộ hiền lao lam vụ tễ,
億 年 聖 澤 海 波 清 Ức niên thánh trạch hải ba thanh.
歸 來 宣 室 承 清 問 Quy lai Tuyên thất thừa thanh vấn,
銅 柱 南 來 總 教 生 Đồng trụ Nam lại tổng giáo sinh.

Dịch nghĩa[4]:
Trăng sáng giữa trời, muốn vật đều sáng tỏ,
Sứ hoa rạng rỡ chiếu rạng ở kinh đô.
Đích thân vâng theo chiều thư, biết đó thấm nhuần ấn trạch của Đế Nghiêu,
Được tiếp loan nghi ngay bên cạnh, thấy dân thời đế Thuấn
Con đường đi đầy vất vả của bậc hiền năng, khí lam chướng quang đãng,
Muôn vạn năm ấn trạch của bậc thánh, như sóng bể trong.
[Sứ giả] trở về nơi Hoàng cung, như có được Hoàng đế hỏi đến,
[Xin hãy nói rằng] phía nam cột đồng thảy dân chúng đều được giáo hóa.

Cầm tuyền vinh lục (錦旋榮錄- A1324): chép 1 bài thơ của Nhữ Đình Toản chúc mừng Lam Sơn hầu Mai Danh Tông về trí sĩ.

Nguyên văn: Phiên âm:
揚 歷 多 年 的 俊 髦 Dương lịch đa niên đích tuần mao,
完 名 端 足 慰 吾 曹 Hoàn danh đoan túc ủy ngô tào,
逸 情 已 逐 齊 浮 艇 Dật tình dĩ trục Tề Phù đĩnh,
壯 志 猶 存 魯 孟 勞 Tráng chí do tồn Lỗ Mạnh lao.
香 積 寺 新 歌 浩 浩 Hương Tích tự tiền ca hạo hạo,
演 溪 江 上 樂 陶 陶 Độc Khê giang thượng lạc đào đào.
詢 黃 會 有 鐵 書 下 Tuân hoàng hội hữu trung thư hạ,
寧 許 園 林 獨 養 高 Ninh hứa viên lâm độc dưỡng cao,

Địch nghĩa[5]:
Làm quan nhiều năm, đích thị là người tài giỏi,
Danh tiếng vẹn toàn đủ để an ủi chúng ta.
Tình cảm khi nhàn dật đã bơi thuyền trên sông nước Tề,
Trang chí vẫn hừng hực như Mạnh Tử người nước Lỗ.
Hát vang vang trước chùa Hương Tích,
Vui tưng bừng trên sông Độc Khê.
Hỏi người tuổi già có khi đọc sách rằng,
Cớ sao riêng nuôi dưỡng sự thanh cao của mình ở chốn điền viên?

    Niên phả lục (年 譜 錄): Sách của Phó đô ngự sử Trần Tiến, trong sách có phần ghi chép thơ văn chúc mừng của các quan trong triều họa mừng nhân dịp Trần Tiến về trí sĩ (Nguyễn Đăng Na sưu tầm, khảo dịch, chú thích và giới thiệu) do Nhữ Đình Toản thực hiện. Trong phần này ngoài các bài thơ của các quan chức đương thời khác, có 1 bài thơ của Nhữ Đình Toản[6].

     Bài Văn sách thi Hội, khoa Bính Thìn (1736) của Hội nguyên Nhữ Đình Toản

          Bài văn sách được chép trong văn bản: Lịch khoa đăng long văn tuyển (Lê triều lịch khoa đăng long văn tuyển), ký hiệu A.2648/2; và Lịch khoa Hội tuyển, ký hiệu A.2819/1, cả hai được lưu trữ tại thư viện, Viện nghiên cứu Hán Nôm. Bài được chấm hạng ưu và Nhữ Đình Toản được xếp đỗ Hội nguyên kỳ thi này.

          Xưa thi hương, thị hội đều phải trải qua bốn trường thi, đỗ trường trước mới được vào thi trường sau là: Trường 1: Kinh nghĩa (làm các bài giải nghĩa kinh điển Nho giáo); Trường 2: Chiếu, chế, biểu (làm các thể văn hành chính, mô phỏng các văn bản của vua và quan); Trường 3: Thơ, phú (làm thơ, phú theo đề tài); Trường 4: Văn sách (nghị luận về chính trị, kinh tế, giáo dục, quân sự, đạo trị nước...). Đề (vấn) thi văn sách kỳ thi Hội, khoa thi Bính Thìn (1736) dài tới hơn 800 chữ, yêu cầu sĩ tử luận về đạo trị nước một cách toàn diện, từ tuyển dụng nhân tài, tổ chức quan chế, xây dựng thể thống, giáo hóa và cải thiện phong tục, phát huy văn chương đến chỉnh đốn võ bị; đồng thời khảo xét kinh nghiệm lịch sử các triều trước và đối chiếu với chính sự đương triều để đề xuất nền trị đạo thích hợp. Đây không chỉ là đề hỏi kiến thức kinh điển, mà là một “chính luận”: người dự thi phải dùng kinh truyện và lịch sử để đánh giá những vấn đề quản trị nhà nước đương thời.

          Theo Đinh Thanh Hiếu[1] (Trường đại học KHXH và NV, ĐHQGHN): “Riêng bài Đối sách của Nhữ Đình Toản chép trong bản A.2819/1 có dung lượng 14 trang, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng khoảng 30 chữ, như vậy tổng số khoảng trên 4000 chữ. Trong một ngày thi mà làm được một bài văn sách với dung lượng lớn và câu hỏi nhiều như vậy thì quả là "đáng nề" trên nhiều phương diện.

          Để được chấm điểm ưu và lấy đỗ đầu kỳ thi Hội, ngoài việc đáp ứng các yêu cầu đương nhiên của trường quy, bài văn sách của Nhữ Đình Toản phải hội đủ các ưu điểm như Cổ văn, Kim văn đều phải thông suốt, đủ ý, tường tận không sót, tinh đáng về nội dung và hồn hậu điển nhã về hình thức. Gần bốn mươi câu hỏi về Cổ văn được ông trả lời rành mạch, tường tận từng điển, từng ý, cho thấy sức cường ký và khả năng bao quát tư liệu đến độ, thực ra cũng không lạ và không khó với một người được đào tạo sẵn gia giáo trong một gia đình thế khoa hiển hoạn như ông...

          Điểm đặc sắc đáng chú ý trong bài Đối sách của Nhữ Đình Toản nằm ở phần đầu và phần cuối của bài văn, tức phần luận giải bao quát vấn đề của đề bài và phần Kim văn, tức trình bày những vấn đề mang tính thời vụ. Kiến thức, văn tài và khí tiết nhà nho ở ông phần nào đã được thể hiện vào buổi đầu "Xuất thân" này... Có thể nói, bài văn sách của Nhữ Đình Toản đã hội đủ những yếu tố đóng vai trò tiêu biểu cho văn thể văn sách thi Hội thời Lê Trung hưng. Với chuẩn mực khoa trường đương thời, bài Đối sách của Nhữ Đình Toản đã đáp ứng một cách xuất sắc các yêu cầu và đã được chấm đỗ đầu.”

    2.2 Tác gia Nhữ Công Chấn (1751 – 1805)    
    Ông là con trai thứ tư của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, đỗ Hoàng giáp năm Nhâm Thìn (1772). Theo lời giới thiệu đầu cuốn “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả”, cuốn tộc phả gồm 3 phần, trong đó có phần 3 là thơ văn của các tác giả trong họ. Tộc phả cũng ghi chép hai người con trai của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản là Nhữ Công Chấn và Nhữ Công Vũ giỏi thi ca, hai ông đều có tập thơ để lại, tuy nhiên trong di sản Hán Nôm dòng họ không còn phần 3 – phần thơ ca của các tác giả trong họ.
    Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có tập “Quốc âm phú” ký hiệu AB.184, trong đó có thơ, phú của nhiều tác giả, trong số đó có Nhữ Công Chấn. Sách "Việt thi tục biên” do Nguyễn Thu (1799 - 1855) soạn vào khoảng đầu đời Nguyễn (thế kỷ XIX). Có 3 nhà thơ ở bản A nằm ở cuối quyển II là Nhữ Công Chấn, Phạm Nguyễn Du, Lê Huy Trâm.
    Sách “Di sản văn chương Văn miếu – Quốc tử giám”, nxb Hà Nội (Tử sách 1000 năm Thăng Long – Hà Nội) có in bốn tác phẩm thơ, phú của Nhữ Công Chấn, gồm:
    - Trọng xuân Quốc tử giám Đinh tế cung kỷ nhất luật (Lễ tế Đinh tại Quốc tử giám, vào mùa xuân, Kính ghi một luật). Là bài thơ chữ Hán thể ngũ ngôn (bài khảo cứu về Nhữ Công Chấn trong sách này có đăng nguyên văn chữ Hán và bản dịch)
    - Bài phú quốc âm (chữ Nôm) “Quan Phu Tử phú”, dài 82 câu ca ngợi quan cha Nhữ Công Toản.
    - Bài phú quốc âm (chữ Nôm) “Tam Kiệt phú” dài 59 câu.
    - Bài phú quốc âm (chữ Nôm) “Tam cương ngũ thường) dài 88 câu.
    Bốn bài thơ, phú trên tác giả sách có đăng lại trên cổng thông tin điện tử họ Nhữ Việt Nam www.honhuvietnam.com.
    Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ trích dẫn nhiều thơ của Nhữ Công Chấn. Trong đó có bài thơ Đề Nhữ Công Tung cựu trạch, chữ Hán, thể thất ngôn bát cú. Bài thơ được giới thiệu nguyên văn chữ Hán, bản dịch ở bài khảo cứu về Hoàng giáp Nhữ Công Chấn trong sách này.

    2.3 Tác gia Nhữ Công Quý (汝公貴)
    Ông là con trai thứ 10 của Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, đỗ Hương cống, làm tri huyện Gia Lộc, tri phủ Khoái Châu, năm Tân Mùi (1811) dâng sách “Hoàng Việt thống chí[7]” lên vua Nguyễn.

    2.4 Tác gia Nhữ Bá Sỹ (1788 - 1867)
    Ông đỗ cử nhân năm Nhâm Ngọ (1822), thi hội trúng Tam trường (sau này gọi là Phó bảng), là nhà thơ, nhà giáo nổi tiếng. Các tác phẩm chính là: Một số tác phẩm của Nhữ Bá Sỹ: Dịch hệ giai thuyết; Việt sư tam bách vịnh; Việt hành tạp thảo; Nghi âm biết lục; Đạm Trai quan nghi tập; Phi điểu nguyên âm; Đại học đồ thuyết; Thanh Hoá tích chí; Nghi âm học thức; Đạm Trai thi văn tập; Nghi Am hàn thương... Ngoài ra, ông có viết bài bình dẫn truyện Quân trung của Nguyễn Chu Kiều, năm 1834.

    Bài tổng hợp này, tác giả sách có tham khảo, trích dẫn từ nhiều tham luận khoa học của các tác giả như: PGS.TS. Phạm Thị Thùy Vinh; ThS. Phạm Văn Ánh; ThS. Đinh Thanh Hiếu; TS. Nguyễn Hữu Tâm v.v...

[1] Các mục 1.5 đến 1.10 có tham khảo, trích dẫn nội dung trong tham luận khoa học “Tiến sĩ Nhữ Đình Toản và những bài văn bia ông để lại cho hậu thế” - Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế tửu Quốc tử giám Nhữ Đình Toản - con người và sự nghiệp do Văn miếu QTG Hà Nội tổ chức ngày 20/12/2013 của tác giả PGS.TS Phạm Thị Thùy Vinh.
[2] Nguyễn Nghiễm: là cha Đại thi hào Nguyễn Du.
[3] Phần giới thiệu các Trước tác của Nhữ Đình Toản có tham khảo, hoặc trích dẫn từ tham luận khoa học “Sơ khảo về sự nghiệp trước tác của Nhữ Đình Toản” của ThS. Phạm Văn Ánh (Viện Văn học), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế tửu Quốc tử giám Nhữ Đình Toản – Con người và sự nghiệp, tổ chức ngày 20/12/2013.
[4] Bản dịch nghĩa của ThS. Phạm Văn Ánh (Viện Văn học).
[5] Bản dịch nghĩa của ThS. Phạm Văn Ánh (Viện Văn học).
[6] Theo tham luận khoa học “Sơ khảo về sự nghiệp trước tác của Nhữ Đình Toản” của ThS. Phạm Văn Ánh (Viện Văn học), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế tửu Quốc tử giám Nhữ Đình Toản – Con người và sự nghiệp, tổ chức ngày 20/12/2013.
[7] Theo báo Khoa học và Tổ quốc số 2-1991. Năm Tân Mùi (1811), Nhữ Công Quý dâng sách “Hoàng Việt Thống chí” lên vua Nguyễn.



Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn