Sự tích Quế hộ Quận Phu nhân

 

附錄桂戶郡夫人事跡   Phụ lục Quế hộ Quận Phu nhân sự tích

Tư liệu Hán Nôm: Trích trong cuốn Hoạch Trạch Nhữ tộc phả, do Tiến sĩ Nhữ Đình Toản khởi soạn năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745)

Dịch và chú giải: Nhữ Đình Văn

Ảnh tư liệu Hán Nôm:


CHẾ BẢN CHỮ HÁN:

附錄桂戶郡夫人事跡

夫人諱潤,尚書介軒公之孫,太傅之女姪,榜眼公, 國老公之堂妹,詹事篤勇公之次女.  初篤勇公生下二女,長女嫁東蕚參議范公,次女氏潤嫁本縣之澤社人, 富家子武姓.

夫人回家,見姊妹皆侯伯命婦,深自為恥,遂单乞為桂戶,領公錢一萬貫,入清花林.

值歲凶,儂人飢歉,夫人為之發贍,纔年餘,公殘消盡,而桂不得. 遂歸夫家,收拾私本,得萬零貫,復入山居,僅二年間. 私錢盡而桂又不得,夫人憂之,誓死林泉,無歸志.

一日乘獨木舟過小溪,時九月,水清,見溪底有一落枝,命儂人下取一桂枝,暗忖宝物必有神所司.

即牲禮入禱,頃見正地道桂一樹,在瓢嫩處,其大數圍,乃取這納,幸免公欠,而私本猶虧. 夫黨每腹非之,夫人亦默如也.

未幾,涼陰寇蜂起,蠶食郡色,累討不克,朗廷為之宵旰.

夫人單乞招諭,經駁,復单上,內有云:妾有夫,有二女,如不能平此賊,願甘軍狀.

夫人伯兄國老公 方秉國鈞,見單復 , 奉鄭王旨,諭此婦必有奇見,果建功,應議旌賞

又奉傳:該係婦人,不隆以權柄,安能辨大事?欽頒上方劍一匣,節旄一旗,自鎮臣以下皆聽用命,以為退賊者激.

旨下鎮官以鵉輿迎入申曰:夫人軍用如何?夫人曰:侍卒五百,將旗一面耳  領符號命, 書汝氏潤 三字,及啟行.

軍至橫林,賊徒望見旗號,皆呼曰:我母!我母哀!我人斯!率官屬膝迎,歡宴三日,不言兵事

夫人曰:今母奉招諭,主宜歸命朝廷,俾母成功,而主亦不失一方酋長,免使生民塗炭.

儂主即日率眾,束戈甲,從夫人出降,一境遂平.

奉敕封桂戶上郡夫人,一品之上,又攽賜祿田二十畝,為世業.

又至次三年,克北貢例辰,偶值清國朝國母, 經年目痛,及服南桂即愈. 遂降旨問該國名為桂州之地,如此好桂,向來何不献貢?使無以對.

遊奏曰:臣國亦無常有此項,惟臣國海陽省上洪府唐安縣穫澤社,有一婦人 汝氏潤   献此桂,臣國君敬命臣全奉齋真清帝. 因問伊婦爾國已曾賞賜否,使臣具奏,已封為桂戶上郡夫人.

因又波及夫人於本國有招諭涼陰賊軍功一段詳奏大清皇帝大加獎異即命兩廣憲察使協與安南使臣二員奉 天朝敕來 封為兩國桂戶上上郡夫人.

欽奉鄭王旨 封贈夫人父篤勇公為顯恭大夫 詹事院詹事 蔭封母黎氏𧫴 夫人 夫武姓 以夫人陰封 贈顯恭大夫 詹事院詹事 國人榮之 傳為異談.

夫人性豪俠,多梗概,常欲捐貲父貫穫澤社,以為后神. 伯兄國老公故𨚫不許. 夫人憤鬱,知其無可奈何,乃重修幕澤社之亭、寺、祠址,皆自出家資,不干伊社.

社內有進士尚書待詔武公者,委將命願捐錢一份,助神功興築之費. 夫人笑曰:幸謝尔公,但俟有欠另告. 然終亦不取.

每以為當族眷兄弟皆朝廷貴顯,而自已又受兩國之封. 故伊社凡有春秋慶節,社民奉迎城隍龍駕先行,夫人乘水晶鵉輿,張雙紅傘後行 及至亭坐判鄉事,伊社科官諸名公皆避不出,蓋恐礙於次位也.

又夫人常有田一頃十餘畝,內間有三畝,係待詔公分田. 夫人欲連區,夫人委人求買,待詔公不聽.

夫人下令:如有耕武公田者,人跡則許;若牛跡徑由我田,打斃. 待詔公一聞此命,制牛車,早則抬出,暮則抬入。夫人恨甚,命駕就國老公問曰:國朝之律,斃進士 如何?國老公為之開導懲諫,乃止. 其豪俠梗概,類如此

今配祀夫人于慕澤神祠之左廡, 及有功德於旁接諸社村者尚奉祀焉.

PHIÊN ÂM:

Phụ lục Quế hộ Quận Phu nhân sự tích

          Phu nhân húy Nhuận, Thượng thư Giới Hiên công chi tôn, Thái phó chi nữ điệt, Bảng nhãn công, Quốc lão công chi đường muội, Chiêm sự Đốc Dũng công chi thứ nữ. Sơ Đốc dũng công sinh hạ nhị nữ, trưởng nữ giá Đông Ngạc Tham nghị Phạm công, thứ nữ thị Nhuận giá bản huyện chi Mộ Trạch xã nhân, phú gia tử Vũ tính.

          Phu nhân hồi gia, kiến tỷ muội giai hầu bá mệnh phụ, thâm tự vi sỉ, toại đơn khất vi Quế hộ, lĩnh công tiền nhất vạn quan, nhập Thanh Hoa lâm.

          Thời trị tuế hung, nông nhân cơ khiểm, Phu nhân vi chi phát thiệm. Tài niên dư, công tàn tiêu tận, nhi quế bất đắc. Toại quy phu gia, thu thập tư bản, đắc vạn linh quan, phục nhập sơn cư. Cận nhị niên gian, tư tiền tận nhi quế hựu bất đắc. Phu nhân ưu chi, thệ tử lâm tuyền, vô quy chí.

          Nhất nhật thừa độc mộc chu quá tiểu khê, thời cửu nguyệt thủy thanh, kiến khê để hữu nhất lạc chi, mệnh nông nhân hạ thủ đắc quế chi, ám thốn bảo vật tất hữu thần sở ty.

          Tức sinh lễ nhập đảo, khoảnh kiến chính địa đạo quế nhất thụ, tại Bầu Nộn xứ, kỳ đại sổ vi, nãi thủ thử nạp, hạnh miễn công khiếm, nhi tư bản do khuy. Phu đảng mỗi phúc phi chi, Phu nhân diệc mặc như dã.

          Vị kỷ, Lương Âm khấu phong khởi, tàm thực quận sắc, lũy thảo bất khắc, lang đình vị chi tiêu cán.

          Phu nhân đơn khất chiêu dụ, kinh bác, phục đơn thượng, nội hữu vân: “Thiếp hữu phu, hữu nhị nữ; như bất năng bình thử tặc, nguyện cam quân trạng”

          Thời, Phu nhân bá huynh Quốc lão công phương bỉnh quốc quân, kiến đơn phục bác, phụng Trịnh vương chỉ dụ: “Thử phụ tất hữu kỳ kiến; quả kiến công, ưng nghị tinh thưởng.”

          Hựu phụng truyền: cái hệ phụ nhân, bất long dĩ quyền bính, an năng biện đại sự? Khâm ban thượng phương kiếm nhất hạp, tiết mao nhất kỳ, tự trấn thần dĩ hạ, giai thính dụng mệnh, dĩ vi thoái tặc giả kích.

          Chỉ hạ trấn quan, dĩ loan dư nghênh nhập, thân viết: “Phu nhân quân dụng như hà?” Phu nhân viết: “Thị tốt ngũ bách, tướng kỳ nhất diện nhĩ”. Lĩnh phù hiệu mệnh, thư Nhữ Thị Nhuận tam tự, cập khải hành.

          Quân chí Hoành Lâm, tặc đồ vọng kiến kỳ hiệu, giai hô viết: “Ngã mẫu! Ngã mẫu ai! Ngã nhân tư!” Suất quan thuộc tất nghinh, hoan yến tam nhật, bất ngôn binh sự.

          Phu nhân viết: “Kim mẫu phụng chiêu dụ chủ, nghi quy mệnh triều đình, tỉ mẫu thành công, nhi chủ diệc bất thất nhất phương tù trưởng, miễn sử sinh dân đồ thán.”

          Nùng chủ tức nhật suất chúng, thúc qua giáp, tòng phu nhân xuất hàng, nhất cảnh toại bình.

          Phụng sắc phong Quế hộ Thượng Quận Phu nhân, nhất phẩm chi thượng, hựu ban tứ lộc điền nhị thập mẫu, vi thế nghiệp.

          Hựu chí thứ tam niên, khắc Bắc cống lệ, thần ngẫu trị Thanh quốc triều, Quốc mẫu kinh niên mục thống, cập phục Nam quế tức dũ. Toại giáng chỉ vấn: “Cai quốc danh vi Quế Châu chi địa, như thử hảo quế, hướng lai hà bất hiến?” Cống sứ vô dĩ đối.

          Du tấu viết: “Thần quốc diệc vô thường hữu thử hạng. Duy thần quốc Hải Dương tỉnh, Thượng Hồng phủ, Đường An huyện, Hoạch Trạch xã, hữu nhất phụ nhân, Nhữ thị Nhuận, hiến thử quế. Thần quốc quân kính mệnh thần toàn phụng trai chân. Thanh đế nhân vấn y phụ nhân: “Nhĩ quốc dĩ tằng thưởng tứ phủ?” Sứ thần cụ tấu: “Dĩ phong vi Quế hộ thượng quận phu nhân”.

          Nhân hựu ba cập Phu nhân ư bản quốc hữu chiêu dụ Lương Âm tặc quân công nhất đoạn tường tấu.  Đại Thanh hoàng đế đại gia chương dị, tức mệnh Lưỡng Quảng hiến sát sứ hiệp dữ An Nam sứ thần nhị viên, phụng Thiên triều sắc lai phong vi “Lưỡng quốc Quế hộ Thượng Thượng Quận Phu nhân.

          Khâm phụng, Trịnh vương chỉ phong tặng Phu nhân phụ Đốc Dũng công vi Hiển Cung đại phu Chiêm sự viện Chiêm sự; ấm phong mẫu Lê thị vi Khiêm Phu nhân. Phu Võ tính, dĩ Phu nhân ấm phong tặng Hiển Cung đại phu, Chiêm sự viện Chiêm sự. Quốc nhân vinh chi, truyền vi dị đàm.

          Phu nhân tính hào hiệp, đa ngạnh khái, thường dục quyên tư phụ quán Hoạch Trạch xã dĩ vi hậu thần. Thời bá huynh Quốc lão công cố khước bất hứa, Phu nhân phẫn uất, tri kỳ vô khả nại hà, nãi trùng tu Mộ Trạch xã chi đình, tự, từ chỉ, giai tự xuất gia tư, bất can y xã.

DỊCH RA QUỐC NGỮ:

附錄桂戶郡夫人事跡   Phụ lục: Sự tích Quế hộ Quận Phu nhân

          Phu nhân tên Nhuận, là cháu nội Thượng thư Giới Hiên công; cháu gọi bằng bác Thái phó (Nhữ Đình Hiền); là em họ (堂妹 đường muội - con chú/bác) của Bảng nhãn (Nhữ Trọng Thai) và Quốc lão công (Nhữ Đình Toản), là con gái thứ của Chiêm sự Đốc Dũng công. Ban đầu, Đốc Dũng công sinh hai con gái: người con gái cả gả cho Tham nghị Phạm công ở Đông Ngạc; người con gái thứ tên là Nhuận gả cho một người họ Vũ, con nhà giầu, nhà ở xã Mộ Trạch, cùng huyện.

          Phu nhân (Nhữ Thị Nhuận) trở về nhà (thân sinh), thấy các chị em của mình (姊妹 tỷ muội) đều là mệnh phụ tước hầu, tước bá, nên tự lấy làm hổ thẹn, liền dâng đơn xin được làm Quế hộ (quản lý, thu mua dược liệu quế), lĩnh tiền công một vạn quan, vào rừng Thanh Hoa.

          Gặp đúng vào năm mất mùa, dân chúng đói kém, Phu nhân liền bỏ tiền cứu giúp. Mới hơn một năm thì tiền đã tiêu hết mà quế vẫn không thu được. Bèn trở về nhà chồng, thu xếp vốn riêng, được hơn một vạn quan, lại vào núi (rừng) ở gần hai năm, rồi tiền riêng cũng hết mà quế vẫn chưa có. Phu nhân rất lo lắng về điều đó, thề chết chốn rừng, quyết không có ý quay về.

          Một hôm, Phu nhân đi thuyền độc mộc qua con suối nhỏ, khi đó là tháng chín, nước trong, nhìn thấy dưới đáy suối có một cành rơi, bèn sai người dân lội xuống lấy lên, được một cành quế. (Phu nhân) thầm nghĩ: “Vật quý ắt hẳn có thần linh coi giữ”.

          Liền sắm lễ vật cầu khấn. Chốc lát thấy một cây quế mọc ngay ven con đường đất chính, xứ “Bầu Nộn”, cây to mấy vòng tay ôm, bèn lấy quế ấy[1] đem nộp, may mắn bù được phần công thiếu, song vốn riêng vẫn còn hao hụt. Họ hàng bên nhà chồng thường trong bụng chê trách việc ấy, Phu nhân chỉ im lặng, không nói gì cả.

          Không lâu sau đó, giặc ở vùng Lương Âm nổi lên như ong, lấn chiếm các vùng trong quận, nhiều lần đánh dẹp không được, triều đình vì thế phải lo lắng khôn nguôi.

Phu nhân dâng đơn xin chiêu dụ, bị bác; lại dâng đơn nữa, nói rằng: “Thiếp có chồng, có hai con gái; nếu không thể dẹp yên được lũ giặc này, xin tự nguyện chịu xử theo quân pháp.”

          Bấy giờ, anh của Phu nhân là Quốc lão công (Nhữ Công Toản) đang nắm quyền nước;  sau khi xem lại bản đơn (đã từng bị bác), phụng mệnh chỉ dụ của Trịnh vương, phán rằng: “Người đàn bà này ắt có kiến giải khác thường, nếu quả lập được công, nên bàn khen thưởng”.

          Lại (có chỉ dụ) phụng truyền rằng: “Người ấy là đàn bà, nếu không ban cho quyền bính, sao có thể làm nên việc lớn?” (Nên) ban (欽頒 khâm ban) cho một hộp thượng phương kiếm và một lá cờ tiết mao. Từ các quan trấn trở xuống đều phải nghe theo hiệu lệnh (của bà), coi đó làm sự kích lệ để dẹp giặc.

          (Chúa Trịnh) Ban chỉ dụ xuống cho quan trấn, (quan trấn) dùng xe loan đón rước bà vào (trấn), kính cẩn hỏi: “Phu nhân dự định dùng quân như thế nào?” Phu nhân đáp: “Chỉ cần năm trăm lính hầu và một lá cờ tướng lệnh mà thôi”. (Phu nhân) nhận lấy phù hiệu, và tờ mệnh thư có ghi ba chữ “Nhữ Thị Nhuận”. Rồi (bà) lên đường.

          Quân vào đến Hoành Lâm, giặc trông thấy cờ hiệu, đều kêu lên rằng: “Mẹ ta! Mẹ ta! Xin thương xót chúng con!”, chúng dẫn các thuộc hạ ra quỳ gối nghênh đón, mở tiệc vui mừng suốt ba ngày, không hề nói đến binh đao.

Phu nhân nói: “Nay mẹ vâng chiếu vua đến chiêu dụ, chủ nên quy thuận triều đình, để mẹ hoàn thành nhiệm vụ, mà chủ cũng không mất địa vị một phương tù trưởng, lại tránh cho dân chúng khỏi cảnh lầm than”.

          Thủ lĩnh người Nùng liền lập tức giải giáp ngay trong ngày ấy, theo Phu nhân ra hàng, cả vùng được yên.

          Phụng mệnh ban sắc phong cho là Quế hộ Thượng Quận Phu nhân, phẩm trật trên bậc nhất phẩm. Lại ban cho lộc điền hai mươi mẫu, để làm nghiệp truyền đời.

          Ba năm sau đó, đúng kỳ lệ cống triều phương Bắc, ngẫu nhiên gặp lúc Hoàng thái hậu triều Thanh bị đau mắt đã nhiều năm, đến khi dùng quế phương Nam thì bệnh liền khỏi. Vì thế, (vua Thanh) ban chiếu hỏi rằng: “Nước ngươi vốn có vùng đất gọi là Quế Châu, có thứ quế tốt như vậy, sao từ trước đến nay không đem tiến cống?” Sứ thần không biết trả lời thế nào.

          Rồi tâu rằng: “Nước thần cũng không thường có thứ quế loại này. Chỉ có một người phụ nữ ở xã Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương của nước thần, tên là Nhữ Thị Nhuận dâng thứ quế này. Quốc vương nước thần kính cẩn sai thần mang cả sang để dâng lên”. Hoàng đế nhà Thanh nhân đó hỏi về người phụ nữ ấy: “Nước ngươi đã ban thưởng cho bà ta chưa?” Sứ thần tâu đầy đủ: “Đã phong cho làm ‘Quế hộ Thượng Quận phu nhân.”

          Nhân đó (sứ thần) lại đề cập, tường trình chi tiết đến việc Phu nhân ở bản quốc (nước ta), một đoạn có công lao chiêu dụ, đánh dẹp giặc Lương Âm. Hoàng đế Đại Thanh hết sức khen ngợi và lấy làm lạ, liền sai Hiến sát sứ Lưỡng Quảng phối hợp với hai viên sứ thần An Nam, vâng mệnh sắc của Thiên triều sang phong (cho bà) là "Lưỡng Quốc Quế Hộ Thượng Thượng Quận Phu Nhân".

          Vâng theo mệnh vua, Trịnh vương ra chỉ phong tặng cho cha của Phu nhân (tức Đốc Dũng công) là Hiển Cung đại phu, chức Chiêm sự ở viện Chiêm sự; và ban tặng cho mẹ là bà họ Lê làm Khiêm Phu nhân, chồng là người họ Vũ, (cũng) nhờ ân phong của Phu nhân mà được phong tặng Hiển Cung đại phu, chức Chiêm sự ở viện Chiêm sự. Người trong nước lấy làm vinh dự, truyền nhau như một chuyện lạ.

          Phu nhân tính tình hào hiệp, khí khái cương trực, thường muốn bỏ tiền của riêng để giúp quê quán xã Hoạch Hoạch, cho cha mình được tôn làm hậu thần. Khi ấy người anh là Quốc lão công cố ý không cho phép, Phu nhân uất ức, biết không còn cách nào khác, bèn đứng ra trùng tu đình, chùa, miếu của xã Mộ Trạch (quê chồng); mọi chi phí đều do bà tự bỏ tiền nhà ra, không phiền lụy đến dân trong xã.

          Khi ấy, trong xã có vị tiến sĩ, chức Thượng thư, giữ hàm Đãi chiếu, họ Vũ, sai người mang lời, xin góp một phần tiền vào chi phí xây dựng công trình thờ thần. Phu nhân mỉm cười nói: “Xin đa tạ tấm lòng của ngài, nếu sau này thiếu sẽ báo lại”. Rốt cuộc, bà vẫn không cần số tiền ấy.

          Bà thường cho rằng, lúc bấy giờ, các anh em thân tộc đều là bậc quyền quý hiển đạt trong triều đình, mà chính bà lại được phong tước của cả hai nước. Vì thế, mỗi khi trong làng có lễ tiết mừng xuân thu, dân xã đều cung kính rước kiệu rồng của Thành hoàng đi trước, còn Phu nhân thì ngồi kiệu loan (...), che hai lọng đỏ theo sau. Khi đến đình ngồi phân xử việc hương thôn, thì các vị khoa quan, danh công trong xã đều tránh không ra mặt, vì e ngại vướng mắc đến thứ bậc (tôn ti, ngôi thứ).

          Lại nữa, Phu nhân có một khoảnh ruộng hơn mười mẫu, (nhưng) bên trong lại có ba mẫu ruộng của ông Đãi chế nằm xen vào khoảng giữa. Phu nhân muốn gom liền cả khu ruộng, nên sai người đi hỏi mua, nhưng Đãi chiếu công không chịu bán.

          Phu nhân tuyến bố rằng: “Nếu người cày ruộng của ông Vũ, đi qua ruộng của bà chỉ để lại dấu chân người thì còn được phép, còn nếu dấu chân trâu đi qua ruộng thì đánh chết trâu. Ông Đãi chiếu biết tin vậy, liền đóng xe trâu, sáng thì khiêng ra, chiều thì khiêng vào (không dám cho trâu đi qua ruộng). Phu nhân càng tức giận, liền cho đánh xe đến hỏi Quốc lão công rằng: “Luật pháp triều đình, giết chết một vị tiến sĩ thì xử thế nào?” Quốc lão công bèn ra sức khai giải, khuyên can và răn dạy, nên phu nhân mới thôi. Tính khí hào hiệp nhưng cứng cỏi, quyết liệt của Phu nhân đại để đều như thế.

          Nay phối thờ Phu nhân tại dãy nhà bên trái (tả vu) của thần từ Mộ Trạch; Phu nhân lại có công đức đối với các xã lân cận, nên đến nay vẫn còn được phụng thờ tại đó.



[1] Ý đoạn này là bà Nhữ Thị Nhuận với nhiệm vụ là Quế hộ (quản lý, khai thác vỏ cây quế làm nguyên liệu) đã tìm ra rừng quế, khai thác mang về nộp. 








Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn