Bao
phong Thái phó Thọ quận công sắc văn 褒封太傅壽郡公敕文
Sắc văn ca ngợi công lao và phong tặng chức Thái phó, tước Thọ Quận công (cho Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền)
Tư liệu Hán Nôm: chép trong các cuốn “Hoạch Trạch Nhữ tộc phả” bản lưu truyền tại làng Hoạch Trạch (Hải Dương) và nhánh họ Nhữ Hà Nội
Dịch và chú giải: Nhữ Đình Văn

Chế bản chữ Hán:
褒封太傅壽郡公敕文
皇上制曰:
乘寶祚以膺圖, 光嗣無疆之歷;
服紀尊功而秩祀, 久酬莫大之勳勞。
明誥煥攽, 幽宮有穆。
賜庚申科進士,特進金紫榮祿大夫,入侍經筵,御史臺都御史,陪從工部尚書,加陞刑部尚書,太保,贈禮部尚書,太傅壽郡公汝廷賢。
惟公星辰毓秀,河海鍾英;
童齡高俸日之襟期,壯冠具凌雲之器業。
三賢能賔仕籍, 司宮講閣,視草輸垣;
六廉課績,踐官途。
秉憲刑曹,持銓選部;
旌車覃澍,雨於江南;
催科詞訟,清釐芃黍, 播輿輪之頒美;
驛馬驟使星於燕北, 玉帛衣裳,肅穆皇葩。
騰原濕之謠吟,口硨碑傳在國人;聲韻光乎世閥。
肆沖人嗣服,繩其祖武, 秩尊詔爵,懋疇庸於矩鬯彝常, 嘉臣丕績,多于先王;
青史書褒,宜錫寵於絃歌金石。
可褒封美字: 德望康濟耿亮,太傅壽郡公。
尚其祇膺顯號,默妥幽馨;
豐籩潔豋,氤氳賁焄。
高于奕葉,景福嘉禋;肸蠁垂祚,胤于來兹。
欽哉。
Phiên âm:
Bao
phong Thái phó Thọ quận công sắc văn
Hoàng
thượng chế viết:
Thừa
bảo tộ dĩ ưng đồ, quang
tự vô cương chi lịch;
Phục
kỷ tôn công nhi trật tự, cửu
thù mạc đại chi huân lao.
Minh
cáo hoán ban, u cung hữu mục.
Tứ
Canh Thân khoa tiến sĩ, đặc
tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Nhập
thị Kinh diên, Ngự sử đài Đô ngự
sử, Bồi Tụng, Công bộ Thượng thư, gia
thăng Hình bộ Thượng thư, Thái
bảo, tặng Lễ bộ Thượng thư, Thái phó Thọ quận công Nhữ Đình Hiền.
Duy
công tinh thần dục tú, hà hải chung anh;
Đồng
linh cao bổng nhật chi khâm kỳ,
Tráng
quan cụ lăng vân chi khí nghiệp.
Tam hiền(*) năng tân sĩ tịch, tư cung giảng các, thị thảo thâu viên;
Lục
liêm khóa tích, tiễn
quan đồ.
Bỉnh
hiến Hình Tào, trì thuyên tuyển bộ;
Tinh
xa đàm chú, vũ ư Giang Nam;
Thôi
khoa từ tụng(**) thanh ly phồn thử. Bá dư luân chi ban mỹ.
Dịch
mã sậu sứ tinh ư Yên Bắc; Ngọc
bạch y thường, túc mục hoàng hoa.
Đằng
nguyên thấp chi dao ngâm, khẩu
xa bi truyền tại quốc nhân; Thanh
vận quang hồ thế phiệt.
Tứ
xung nhân tự phục, thằng
kỳ tổ vũ. Trật
tôn chiếu tước, mậu
trù dung ư củ trướng di thường. Gia
thần phi tích, đa ư tiên vương;
Thanh
sử thư bao, nghi tích sủng ư
huyền ca kim thạch.
Khả
bao phong mỹ tự: Đức
Vọng Khang Tế Cảnh Lượng, Thái
phó Thọ quận công.
Thượng
kỳ chỉ ưng hiển hiệu, mặc
thỏa u hinh;
Phong
biên khiết đăng, nhân
uân bí huân.
Cao
ư dịch diệp, cảnh phúc gia yên; hất hưởng thùy tộ, dận ư lai tư.
Khâm
tai.
Tạm dịch:
Sắc văn ca ngợi công lao và phong Thái phó Thọ Quận công
Hoàng thượng ban chế rằng:
(Trẫm)
nối ngôi báu, nhận mệnh Trời, làm rạng rỡ vận nước dài lâu.
Nay
theo điển chế để tôn vinh công trạng, sắp đặt việc thờ tự theo đúng lễ nghi, báo
đáp bền lâu những huân công to lớn.
Minh cáo rạng ban, ân chiếu sáng tỏ. Chốn u minh (nhờ đó mà) thêm phần yên hòa,
cảm ứng linh khí trang nghiêm.
Ban cho Tiến sĩ khoa Canh Thân, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại
phu, Nhập
thị Kính diên, Đô ngự sử tại Ngự
sử đài, Bồi Tụng,
Thượng thư Bộ Công, gia thăng Thượng thư Bộ Hình, Thái bảo, truy tặng
Thượng thư Bộ Lễ, Thái phó, tước Thọ Quận công Nhữ Đình Hiền.
Xét rằng: Ông được tinh tú hun đúc vẻ đẹp, sông biển hội tụ tinh anh.
Từ thuở nhỏ đã ôm chí lớn rạng rỡ như mặt trời đang lên,
Khi trưởng thành đủ khí nghiệp vươn cao tận mây xanh.
Ba lần(*) được tiến cử vào hàng hiền năng, ghi danh trong sổ quan. Giữ việc giảng
sách trong cung, thảo chiếu chế triều đình;
Sáu
điều liêm chính giữ trọn, lập nên thành tích, bước vững trên đường quan lộ.
Giữ phép nước nghiêm minh nơi bộ Hình, chủ trì việc lựa chọn quan lại
nơi bộ Lại;
Xe
cờ đi sứ, ơn thấm như mưa, lan tỏa khắp đất Giang Nam
Đốc
thúc sư thuế, phân xử kiện tụng, làm cho thóc lúa thêm dồi dào, kỷ cương được trong
sạch. Tiếng tốt lan truyền theo bánh xe công vụ.
Ngựa
trạm phi nhanh, sứ mệnh sáng như sao đến Yên Bắc. Lễ vật ngọc lụa, triều phục chỉnh
tề, làm rạng rỡ ân vua.
Lời ca tụng vang khắp đồng nội, truyền khẩu tựa bia đá trong lòng quốc
dân. Thanh danh tiếng vang xa, làm rạng rỡ cả dòng họ.
Con cháu tiếp nối cơ nghiệp, noi theo công đức tổ tiên, được chiếu chỉ ban phong tước
theo thứ bậc, công lao được tôn vinh, ghi nhận trong khuôn phép điển thường. Bề tôi hiền có công lớn, vượt trội hơn cả (các bề tôi) đời trước;
Sử xanh ghi chép lời ngợi khen, nên xứng đáng được ban ân sủng bằng lễ nhạc, khắc vào chuông đá muôn đời.
Nay chuẩn cho bao phong mỹ tự: “Đức Vọng
Khang Tế Cảnh Lượng” (Đức vọng cao dày, cứu đời an dân, chí khí quang minh), chức Thái phó, tước Thọ quận công.
Hãy kính cẩn đón nhận vinh hiển này, là an ủi (của trẫm) tới anh linh
nơi chín suối.
Lễ vật tế tự đầy đặn thanh khiết, khói hương
lan tỏa thiêng liêng.
Phúc trạch cao dày truyền mãi muôn đời, điềm lành cảm ứng từ lễ tế trang
nghiêm. Linh khí thấm đượm ban xuống phúc ấm, để dòng dõi con cháu hưởng trọn
mai sau.
Kính thay!
Chú giải:
(*) Tam hiền: tạm dịch là: Ba lần được tiến cử... Có thể "tam hiền" là chỉ "đúc độ", tam hiền (nhân, trí, dũng).
(**) Thôi khoa từ tụng thanh ly phồn thử. Bá dư luân chi ban mỹ: tạm dịch là "Đốc thúc sư thuế, phân xử kiện tụng, làm cho thóc lúa thêm dồi dào, kỷ cương được trong sạch. Tiếng tốt lan truyền theo bánh xe công vụ", đoạn văn ngôn này có thể có nghĩa khác.
[1] Khoa Canh Thân: Khoa thi năm Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 5
(1680), triều vua Lê Hy Tông.
[2] Nhập thị Kính diên: Kính diên là chức quan giảng kinh sách trong cung. Thời
kỳ giảng các quan luân lưu vào giảng, gọi là Nhập thị Kính diên.
[3] Đô ngự sư: Đô ngự sử là trưởng quan của Ngự sử đài, trậ Chánh tam phẩm,
vinh phong Tư chính thượng khanh. Ngự sử đài là cơ quan
giám sát tối cao trong triều đình phong kiến Việt Nam (như thời Trần, Lê,
Nguyễn) có chức năng chính là can gián vua, hạch tội các quan lại tham nhũng, lạm
quyền, giữ gìn kỷ cương phép nước, gần giống với Thanh tra Chính phủ hiện nay, nhưng quyền lực lớn và rộng hơn.
[4] Bồi tụng: mang hàm dưới (phó) của Tham tụng, Tham tụng và Bồi tụng là chức
quan địa thần. Tham tụng nắm quyền tể tướng.
[5] Thượng thư: Chức quan đứng đầu một bộ, như Bộ trưởng ngày nay, tuy nhiên,
xưa chỉ có sáu bộ, nên nhiệm vụ của các bộ rất rộng.
[6] Thái Bảo: Thái Bảo đứng sau Thái Phó, Thái sư, gọi là Tam thái, là chức
quan đại thần quân cơ, trật Chánh nhất phẩm hoặc trên Chánh nhất phẩm tùy triều
đại quy định.
[7] Thọ quân công: Tước vị cao vua ban, có các tước từ thấp đến cao là: Nam, Tử,
Bá, Hầu, Công.
[8] Nhữ Đình Hiền (1559 – 1716): Đỗ tiến sĩ khoa thi Canh Thân (1680), là con
trai Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng (1623 – 1689), cháu 8 đời của Tiên sĩ Nhữ Văn Lan
(1423 – 1523), cha của tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1703 – 1773), ông nội của Hoàng
giáp Nhữ Công Chấn (1751 – 1805), chú ruột Bãng nhãn Nhữ Trọng Thai (1697 –
1745). Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền làm quan trải nhiều chức, thăng đến Bội tụng, Thượng
thư bộ Hình, gia phong tặng Thái phó, Thượng thư bộ Lễ, Thọ quân công.
[9] Sáu điều liêm: Theo
quan chế xưa, "Lục liêm" (六廉) thường chỉ sáu
tiêu chuẩn đánh giá quan lại: 1. Liêm thiện (廉善) – đạo đức tốt; 2.
Liêm năng (廉能) – tài năng xuất sắc; 3.
Liêm kính (廉敬) – tận tụy; 4.
Liêm chính (廉正) – chính trực; 5.
Liêm pháp (廉法) – tuân thủ pháp luật; 6.
Liêm biện (廉辨) – sáng suốt, minh bạch
