CHI BẢY HẬU DUỆ NGUYỄN BỈNH KHIÊM GHI CHÉP VỀ BÀ NHỮ THỊ THỤC VÀ HỌ NGOẠI (trích)
Ảnh tư liệu:
汝氏始祖黎朝進士贈封剛正博達大王, 諱文蘭, 黎朝光順聖宗年號四年癸未科
敕賜第二甲進士出身, 仕至戶部尚書,加封剛正博達大王,原南策府, 先明縣, 安子下社人
現為祀社福神丕朝贈封至今香火不絕,奉祀皆其族焉
公生二另一女
長男鈌名
次男是玄明公 也移居上洪府,今改為平江府, 唐安縣,今改為能安縣, 耒陽社,東村。
至汝文啟移居穫澤社而汝家世系肇於此矣。
一女贈封太夫人汝氏號慈淑嫁阮氏永賴縣,中庵社, 監生貟贈太傅嚴郡公號瞿川先生諱 文定, 生一男 阮文達莫大正(歷)六年敕賜乙未科第一甲第一名進士及第授東閣校書,刑部左侍郎, 遷吏部右侍郎,兼東閣大學士, 加贈封國公字秉謙號白雲庵居士, 今有白雲庵詩集行于世
夫人性聰明通經史善文章, 尤精風鑑曉術数方洪德盛時, 而知四十年後黎運當微, 慨然有丈夫改運之志,擇對不嫁幾十年餘, 後見文定, 知其有生貴兒相, 遂婦焉後遇一年少過雲江寒渡頭 愕然嘆曰: “少時何不相遇, 今日到此奚為”; 從者 𠮟而鞭之, 夫人徐詢姓名, 始知為莫登庸, 懊悔者移日洪德二十一年,辛亥,生程國公阮秉謙. 身長大,容貌英偉,未週歲能言。一日昧爽,文定公抱諸卷,忽語曰:日出東方. 文定公大驚異. 年四歲,夫人誨以經傳正文,卽能爛熟. 時夫人他出,文定公因拽竹䉩,兜戲,吟云:月撩弓,月撩弓,下句未就, 程公即應云:援𢬣仙㧾㧾柊 及夫人回,文定公喜以示夫人,夫人恚曰:月,臣象也,汝何以此命兒!文定大慚謝,然恨終不釋,竟辭歸,遍相天下,皆不如意.
後至(洞)溪縣界,見一野人立于田畔,凝注久之,心甚得,以為必生貴子,遂與成親. 合卺之日,夫人常仗劍披髮以觀星度. 期朞年,生狀元逢國公,纔二歲襁中能詠詩. 夫人嘆曰:
謀事在人
成事在天
後死在父貫今配祀夫人為大公(王?)祠之左廡
越南民主共和十五年庚子,正月二十日 國家問其玉譜專題去來,恐其舛落
Phiên âm:
Nhữ
thị thủy tổ, Lê triều tiến sĩ tặng phong Cương chính Bác đạt Đại vương, huý Văn
Lan. Lê triều Quang Thuận Thánh Tông niên hiệu tứ niên Quý Mùi khoa, sắc tứ Đệ
nhị giáp tiến sĩ xuất thân, sĩ chí Hộ bộ Thượng thư, gia phong Cương Chính Bác
Đạt Đại Vương. Nguyên Nam Sách phủ, Tiên Minh huyện, An Tử Hạ xã nhân.
Hiện
vi tự xã phúc thần, phi triều tặng phong, chí kim hương hoả bất tuyệt, phụng tự
giai kỳ tộc yên.
Công
sinh nhị nam nhất nữ.
Trưởng
nam khuyết danh.
Thứ
nam thị Huyền Minh công dã, di cư Thượng Hồng phủ, kim cải vi Bình Giang phủ,
Đường An huyện, kim cải vi Năng An huyện, Lỗi Dương xã, Đông thôn.
Chí
Nhữ Văn Khải(?)
di cư Hoạch Trạch xã, nhi Nhữ gia thế hệ triệu ư thủy hĩ.
Nhất
nữ tặng phong Thái phu nhân Nhữ thị, hiệu Từ Thục, giá Nguyễn thị, Vĩnh Lại huyện,
Trung Am xã. Giám sanh viên tặng Thái phó Nghiêm quận công, hiệu Cụ Xuyên tiên
sinh, huý Văn Định.
Sinh
nhất nam Nguyễn Văn Đạt, Mạc Đại Lịch (Chính?) lục niên sắc tứ Ất Mùi khoa, Đệ nhất giáp Đệ nhất danh Tiến sĩ cập đệ,
thụ Đông các Hiệu thư, Hình bộ Tả thị lang, thiên Lại bộ Hữu thị lang, kiêm
Đông các Đại học sĩ, gia tặng phong Quốc công, tự Bỉnh Khiêm, hiệu Bạch Vân Am
cư sĩ. Kim hữu Bạch Vân am thi tập hành ư thế.
Phu
nhân tính thông minh, thông kinh sử, thiện văn chương, vưu tinh phong giám hiểu
thuật số. Phương Hồng Đức thịnh thời, nhi tri tứ thập niên hậu Lê vận đương vi,
khái nhiên hữu trượng phu cải vận chí, trạch đối bất giá cơ thập niên dư. Hậu
kiến Văn Định, tri kỳ hữu sinh quý nhi tướng, toại phụ yên.
Hậu
ngộ nhất niên thiếu quá Vân giang Hàn độ đầu, ngạc nhiên thán viết: “Thiếu thì
hà bất tương ngộ, kim nhật đáo thử hề vi?” Tùng giả sất nhi tiên chi. Phu nhân
từ tuân tính danh, thuỷ tri vi Mạc Đăng Dung. Áo hối giả di nhật.
Hồng
Đức nhị thập nhất niên, Tân Hợi, sinh Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thân
trường đại, dung mạo anh vĩ, vị chu tuế năng ngôn. Nhất nhật muội sảng, Văn Định
công bão chư quyển, hốt ngữ viết: “Nhật xuất đông phương”. Văn Định công đại kinh dị.
Niên
tứ tuế, phu nhân hối dĩ kinh truyện chính văn, tức năng lạn thục. Thời phu nhân
tha xuất, Văn Định công nhân duệ trúc tiển, đâu hí, ngâm vân: “Nguyệt liêu
cung, nguyệt liêu cung.” Hạ cú vị tựu, Trình công tức ứng vân: “Viên trù tiên tổng
tổng đông.” Cập phu nhân hồi, Văn Định công hỉ dĩ thị phu nhân. Phu nhân hối viết:
“Nguyệt, thần tượng dã, nhữ hà dĩ thử mệnh nhi!” Văn Định đại tàm tạ, nhiên hận
chung bất thích, cánh từ quy, biến tương thiên hạ, giai bất như ý.
Hậu
chí ... (Động) Khê huyện giới, kiến nhất dã nhân lập ư điền bạn, ngưng chú cửu
chi, tâm thậm đắc, dĩ vi tất sinh quý tử, toại dữ thành thân. Hợp cẩn chi nhật,
phu nhân thường trượng kiếm phi phát dĩ quan tinh độ. Kỳ cơ niên, sinh trạng
nguyên Phùng Quốc công, tài nhị tuế cưỡng trung năng vịnh thi. Phu nhân thán viết:
“Mưu
sự tại nhân,
Thành
sự tại thiên.”
Hậu
tử tại phụ quán. Kim
phối tự phu nhân vi
Đại công (vương?) từ chi tả vu.
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thập ngũ niên Canh Tý, chính nguyệt nhị thập nhật. Quốc gia vấn kỳ ngọc phả chuyên đề khứ lai, khủng kỳ xuyển lạc.
DỊCH NGHĨA TIẾNG VIỆT:
Thủy
tổ họ Nhữ (là ông) đỗ
tiến sĩ đời Lê, được tặng phong Cương Chính Bác Đạt Đại Vương, tên huý là Văn
Lan[1].
Ông đỗ khoa Quý Mùi, năm Quang Thuận thứ tư, đời vua Lê Thánh Tông, được ban sắc chỉ Đệ nhị giáp Tiến sĩ[2]
xuất thân. Làm quan đến chức Thượng thư bộ Hộ, được gia phong làm Cương Chính
Bác Đạt Đại Vương. Nguyên quán: xã An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách.
Hiện
được thờ làm Thành hoàng làng, được các triều đại sắc phong, đến nay hương khói
không dứt, việc thờ phụng đều do dòng họ của ngài đảm nhận.
Ông (Văn
Lan) sinh được hai trai một gái.
Con
trai trưởng khuyết
danh.
Con
trai thứ là Huyền Minh công, đã di cư đến phủ Thượng Hồng (sau đổi thành phủ
Bình Giang), huyện Đường An (sau đổi thành huyện Năng An), xã Lỗi Dương, thôn
Đông. Đến
đời Nhữ Văn Khải[3](?) thì di cư đến xã Hoạch
Trạch, và thế hệ gia tộc họ Nhữ khởi phát (đỗ đạt, thành danh) từ đây.
Người
con gái Nhữ thị,
được tặng phong Thái phu nhân, hiệu Từ Thục, gả về họ Nguyễn, ở xã Trung Am,
huyện Vĩnh Lại. (Chồng bà là) Giám sinh, được tặng Thái phó[4]
Nghiêm quận công, hiệu Cụ Xuyên tiên sinh, tên huý là Văn Định.
(Hai
người) sinh một con trai là Nguyễn Văn Đạt, đỗ khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính thứ sáu đời Mạc, được ban sắc Đệ nhất giáp, Đệ nhất danh Tiến sĩ cập đệ (Trạng
nguyên). Ông được bổ làm Hiệu thư ở Đông các, rồi Thị lang bộ Hình, thăng lên Hữu
thị lang bộ Lại, kiêm Đông các Đại học sĩ, được gia tặng phong Quốc công, tự là
Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ. Hiện còn có tập thơ "Bạch Vân am
thi tập" lưu hành ở đời.
Phu nhân bản tính thông
minh, thông thạo kinh điển, giỏi văn chương, đặc biệt tinh thông thuật xem tướng
(phong giám), am hiểu các thuật số (bói toán, chiêm đoán).
Vào thời Hồng Đức thịnh trị, bà đã biết trước rằng bốn mươi năm sau vận nhà Lê
sẽ suy vi, nên bà có chí khí lớn lao muốn cải vận. Bà kén chọn người phối ngẫu,
hơn mười năm không chịu lấy chồng. Sau gặp ông Văn Định, biết ông có tướng sinh
quý tử,
bèn lấy làm chồng.
Sau này, gặp một chàng
trai trẻ ở bến đò Hàn, sông Vân, bà ngạc nhiên than rằng: “Thuở còn trẻ sao
không gặp nhau, hôm nay đến đây làm gì?” Người theo hầu quát mắng và quất roi
anh ta. Phu nhân từ tốn hỏi tên họ, lúc ấy mới biết (chàng trai) là Mạc Đăng
Dung. (vì cuộc gặp gỡ này) Bà buồn bã, day dứt suốt mấy ngày.
Năm
Hồng Đức thứ 21, năm Tân Hợi, sinh Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông thân
hình cao lớn, dung mạo khôi ngô anh tuấn, chưa đầy một tuổi đã biết nói. Một buổi
sáng sớm, ông Văn Định bồng con trong phòng sách, đứa bé bỗng nói: "Mặt trời
mọc đằng đông." Ông Văn Định rất kinh ngạc.
Lên bốn tuổi, Phu nhân dạy cho (con) học các bản văn chính
của kinh và truyện, liền có thể thuộc làu, thông thạo. Một
lần phu nhân đi vắng, Văn Định nhân đó kéo cành trúc, làm trò chơi,
ngâm rằng: “Nguyệt nâng cung, nguyệt nâng cung”, vế dưới chưa nghĩ xong, Trình
công liền ứng khẩu đọc: “Vin tay tiên, hốt hốt dông”.
Khi
Phu nhân trở về, ông Văn Định
vui mừng đem khoe. Phu nhân giận nói: “Trăng là tượng của bề tôi, sao ông lại dùng
chữ ấy mà đặt (làm mệnh đề) cho con!” Văn Định
hổ thẹn tạ lỗi, nhưng Phu nhân uất hận mãi không nguôi, cuối cùng từ biệt ra
đi, từ đó bà chuyên đi xem tướng trong thiên hạ, mãi chẳng được người vừa ý.
Sau (Phu nhân) đi đến địa giới huyện Động
Khê, thấy một người đứng ở bờ ruộng, chăm chú nhìn rất lâu, trong lòng rất hài
lòng, cho rằng người đó chắc chắn sinh quý tử, bèn kết duyên thành vợ
chồng. Đêm hợp cẩn,
Phu nhân thường
cầm kiếm, xõa tóc để xem tinh độ
(sao
trời).
Đúng một năm sau, sinh ra Trạng nguyên[5]
Phùng Quốc công, mới hai tuổi,
còn trong nôi đã biết ngâm thơ. Phu nhân than rằng:
"Mưu
sự tại nhân,
Thành
sự tại thiên”
Sau mất tại
quê cha. Hiện
được phối thờ ở
gian tả của Đại vương từ
(đình thờ Nhữ Tướng công Cương chính Bác đạt Đại
vương).
Ngày
hai mươi tháng Giêng, năm Canh Tý (1960), thứ mười lăm (sáu?) của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà. Nhà nước hỏi đến gia phả (ngọc phả) ấy, chuyên đề này ghi lại lai lịch,
sợ rằng có sai sót thất lạc.
[1] Húy Văn Lan: Một số tài liệu ghi chép: Tự Văn Lan, húy Thái.
[2] Đệ nhị giáp Tiến sĩ: Chính xác theo văn bia đề danh tiến sĩ, cụ Nhữ Văn Lan
đỗ Đệ tam giáp.
[3] Nhữ Văn Khải: Các tư liệu Hán Nôm khác đều ghi chép: cụ Nhữ Tiến Dụng 7, hậu
duệ đời 7 tính từ Cụ Nhữ Văn Lan sinh ra ở xã Lỗi Dương, lớn lên với ông bà ngoại
bên xã Hoạch Trạch (do che mẹ mất sớm), sau cụ đăng ký quê quán tại xã Hoạch Trạch.
[4] Thái phó: Một số tư liệu Hán Nôn ghi là Thái bảo.
[5] Trạng nguyên Phùng Quốc công: Chính sử Phùng Khắc Khoan đỗ Hoàng giáp, được
dân suy tôn là Trạng Bùng (Bùng là quê hương ông)

